Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HSST

Ngày: 19/9/2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP . HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Quang Hiên.

2. Bà Nguyễn Thị Thuần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Bà Dương Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 220/2024/HSST, ngày 05 tháng 9 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024QĐST-PT, ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Chiến T, Sinh năm: 1968, Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú và thường trú: Số nhà G, ngõ C đường C, TDP V, phường C, quận B, thành H. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Ông Mai Thế S (Đã chết), mẹ đẻ: Bà Phan Thị L, Sinh năm: 1941. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Hoàng Thị T1, Sinh năm: 1982. Có 02 con chung, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024. Bị cáo tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1959;

Nơi cư trú: Cụm I xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 17/01/2024, công an quận B nhận được đơn trình báo của ông Lê Văn T2 về việc ông T2 bị M Chiến Thắng lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng thông qua việc nhận tiền để làm sổ đỏ cho ông T2 nhưng không thực hiện được, không trả lại tiền và có dấu hiệu bỏ trốn. Các lần chuyển tiền đều diễn ra tại phường X, quận B, thành phố Hà Nội có anh Nguyễn Quang V chứng kiến. (BL 27-28)

Vật chứng thu giữ: Ông Lê Văn T2 cung cấp: (BL 27)

- 01 đơn trình báo; 02 chứng từ giao dịch ngày 03/4/2023 và ngày 07/10/2023; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Lê Văn T2; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Mai Chiến T; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V.

Mai Chiến T giao nộp: (BL 98-112) 01 (một) giấy nhận và hẹn trả hồ sơ. 01 (một) biên bản nghiệm thu, bàn giao sản phẩm và thanh lý hợp đồng tư vấn. 01 (một) đề nghị ký hợp đồng xác định chỉ giới đường đỏ. 01 (một) biên bản giao nhận hồ sơ. 01 (một) hợp đồng dịch vụ tư vấn. 01 (một) bản đồ hiện trạng. Tất cả các văn bản trên đều có chữ ký, ghi rõ họ tên Hoàng Thị C.

Lê Cao C1 cung cấp: (BL 119-124) 05 (năm) ảnh chụp màn hình, trang tài liệu, thẻ căn cước được in trên khổ giấy A4 màu đen trắng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 2 năm 2023, do có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất mảnh đất trồng cây tại Cụm I, xã T, huyện Đ, Hà Nội, thông qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Quang V, ông Lê Văn T2 biết đến Mai Chiến T. T giới thiệu bản thân công tác tại phòng đo đạc tại sở tài nguyên môi trường thành phố H có quen biết ông Lê Thanh N nguyên là phó giám đốc sở TNMT thành phố H nay về làm chủ tịch huyện Đ. Do đó, anh T2 đã nhờ T hoàn thiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất của mình, T đồng ý.

Khoảng cuối tháng 3 năm 2023, Mai Chiến T dẫn theo người đến nhà ông T2 tại xã T, huyện Đ để đo đạc đất. Tại đây, sau khi đo xong 5 mảnh đất của ông T2, T chưa nhận lời giúp ngay mà nói để về kiểm tra quy hoạch xem những mảnh đất này có chuyển đổi mục đích sử dụng được hay không, ông T2 đồng ý. Lúc này, nhớ ra việc nhà bà Hoàng Thị C là người cùng xã cũng đang có nhu cầu làm sổ đỏ cho mảnh đất đang ở nên ông T2 đã dẫn T đến nhà bà C để đo đạc và đánh giá hiện trạng. Sau khi đo xong và được bà C cung cấp những giấy tờ liên quan chứng minh nguồn gốc đất, T nói với anh T2 đất nhà bà C có thể ra sổ được và đưa ra chi phí để hoàn thiện hồ sơ là 150.000.000 đồng, 50.000.000 đồng nữa gọi là chi phí đi lại, ăn uống tổng là 200.000.000 đồng, yêu cầu ứng trước 100.000.000 đồng, khi nào ra được sổ đỏ thì thanh toán nốt. Ông T2 sau đó đưa cho T 15 triệu tiền công đo đạc đất nhà ông T2 và chuyển lời T nói cho gia đình bà C biết. Ngày 02/4/2023, anh Lê Cao C1 con trai bà C chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản của ông Lê Văn T2. Sau đó, ông Trung chuyển K số tiền 100.000.000 đồng cho Mai Chiến T vào ngày 03/4/2023. Nhận được tiền, khoảng vài ngày sau, T một lần nữa đưa người về nhà bà C đo đạc đất và hướng dẫn bà C ký vào các giấy tờ liên quan do T chuẩn bị rồi lấy thêm 5.000.000 đồng tiền công đo đạc từ ông T2. Cũng trong khoảng tháng 4/2023, ông T2 bị phòng tài nguyên và môi trường huyện Đ trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DP 619044 và DP 619045 mang tên bà Hoàng Thị K1 - vợ ông T2; Ông T2 có nhờ T can thiệp giúp thì T đồng ý. Ngày 12/7/2023, ông T2 tiếp tục nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Hoàng Thị K1 như trên đến phòng tài nguyên và môi trường huyện Đ và chụp thông báo gửi cho T để T tác động giúp. Ngay hôm sau, T đến nhà ông T2 nói vừa lên huyện về và hồ sơ của ông T2 được giải quyết xong. Tin Thắng đã giúp mình nên ông T2 đưa 30.000.000 đồng tiền mặt cho T để cảm ơn. Nhưng sau đó đến ngày 17/8/2023, ông T2 tiếp tục bị trả hồ sơ nên sau đó không tin tưởng T nữa, ông T2 đã tự hoàn thiện hồ sơ để nộp và đến nay đã được cấp giấy chứng nhận cho mảnh đất mang tên bà K1. Từ thời điểm này, ông T2 nhiều lần liên lạc để hỏi về tiến độ ra sổ đối với mảnh đất nhà bà C nhưng T không nghe máy, ra nhà T nhiều lần nhưng không gặp. Đến ngày 07/10/2023, Mai Chiến T liên hệ với anh V, nói là thủ tục sắp xong, cần thêm 20.000.000 đồng để ra được sổ. Anh V đã nói lại với ông T2 về việc này. Nghĩ rằng số tiền 100.000.000 đồng đã chuyển cho T rồi, nếu dừng lại thì mất nên ông T2 tiếp tục chuyển cho T 20.000.000 đồng. Từ thời điểm đó, ông T2 không liên lạc được với T cũng như không thấy chính quyền địa phương thông báo gì liên quan đến việc ra sổ đỏ cho đất nhà bà C, nghĩ là mình bị lừa nên ông T2 làm đơn tố giác đến cơ quan công an. (BL 27-66, 74-128) Tại cơ quan điều tra, Mai Chiến T khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên và khai bản thân không làm việc trong cơ quan nhà nước mà hiện là giám đốc công ty cổ phần T4 mới. Mặc dù không được ủy quyền hợp pháp từ gia đình bà C, T cho rằng bản thân làm việc nhiều năm trong lĩnh vực địa chính, nắm được quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nhận lời hoàn thiện thủ tục giúp gia đình bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. T thừa nhận đã tự đưa ra yêu cầu số tiền 150.000.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền công để làm việc này. T thừa nhận đã nhận tổng số tiền 170.000.000 đồng từ ông T2 gồm: 20.000.000 đồng tiền công cho 02 lần đo đạc, tiền chi phí để hoàn thiện hồ sơ là 100.000.000 đồng nhận vào ngày 03/4/2024, 20.000.000 đồng nhận vào ngày 07/10/2023 và 30.0000.000 đồng tiền ông T2 cảm ơn vào tháng 7/2023. Từ tháng 4/2023, sau khi nhận được 100.000.000 đồng, T lập bản đồ hiện trạng mảnh đất nhà bà C, cho bà C kí bộ hồ sơ liên quan đến việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đưa tiền cho các cá nhân là cán bộ thuộc các đơn vị, cơ quan liên quan để hỏi về tình trạng và thông tin liên quan đến đất nhà bà C nhưng không trình bày đưa tiền cho ai, số lượng bao nhiêu. T thừa nhận chưa nộp hồ sơ cho bất kì cơ quan liên quan nào để làm các thủ tục trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà bà C đồng thời dùng một phần số tiền đã nhận để tiêu xài cá nhân. Đối với việc nhà ông T2 xin cấp giấy chứng nhận cho 02 mảnh đất mang tên bà Hoàng Thị K1, T khai chỉ nhờ bằng lời nói chứ không làm gì để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, T cũng không nói rõ là đã nhờ ai. (BL 74-112)

Ngày 12/4/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B tiến hành xác minh tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội - huyện Đ về hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C tại xã T, huyện Đ, Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Thu H phó giám đốc chi nhánh cung cấp: từ tháng 3/2023 đến nay chi nhánh huyện Đ chưa tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C trú tại xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội bất kỳ lần nào. (BL 138)

Ngày 12/4/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ về hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C địa chỉ số C, xóm M, cụm E, T, Đ, Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn H1 công chức địa chính xã T cung cấp: ngày 18/12/2023 UBND xã T nhận được đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu của bà Hoàng Thị C mà không qua ủy quyền cho bất kì cá nhân nào. Đơn do bà Hoàng Thị C trực tiếp nộp tại UBND xã T, UBND xã đang yêu cầu gia đình bà C hoàn thiện hồ sơ theo quy định do thực tế hồ sơ chưa đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (BL 141)

Ngày 08/8/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B tiến hành xác minh quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thuộc cấp xã và hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số DP619045 và DP619044 của gia đình ông Lê Văn T2 và bà Hoàng Thị K1. Bà Nguyễn Thu H phó giám đốc chi nhánh cung cấp quy trình và quá trình hoàn thiện hồ sơ thủ tục cấp giấy chứng nhận số DP619044 và DP619045 cho bà Hoàng Thị K1 từ ngày 08/10/2022 đến tháng 5/2024 là có kết quả. Trong khoảng thời gian này, không có ai tên Mai Chiến T thay gia đình ông T2 hoàn thiện hồ sơ. (BL 139-140)

Đối với vật chứng là những tài liệu giấy tờ thu giữ của bị hại ông Lê Văn T2, bị cáo Mai Chiến T và người liên quan anh Lê Cao C1 hiện lưu trong hồ sơ chuyển theo vụ án để xét xử theo quy định. (BL 27, 98-112, 119-124)

Về dân sự: Ông Lê Văn T2 đề nghị Mai Chiến T trả lại số tiền 170.000.000 đồng. (BL 35-36)

Bản Cáo trạng số 217/CT-VKSBTL ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Mai Chiến T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận đã nói dối ông T2 là mình có khả năng làm được sổ đỏ để nhận 100.000.000 đồng từ ông T2 để làm sổ đỏ cho bà C, 20.000.000 đồng để đo đạc đất của bà C, 20.000.000 đồng để đo đạc đất của ông T2 và 30.000.000 đồng tiền khi nhận có nói với ông T2 anh nhờ ai bao nhiêu tiền thì đưa cho em bấy nhiêu, tiền này là tiền nhờ tác động để làm sổ đổ cho ông T2 khi ông T2 nộp hồ sơ bị trả về. Nhưng thực tế bị cáo không tác động với người có thẩm quyền nên hồ sơ làm sổ đỏ của ông T2 tiếp tục bị trả về.

Bị cáo tại phiên tòa đã bồi thường xong cho bị hại ông T2 số tiền 170.000.000 đồng, bị hại làm đơn đã nhận đủ tiền và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính, mẹ già, mong hội đồng xét xử cho bị cáo mức thấp nhất để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội ở cùng gia đình.

Bị hại ông T2 đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường không còn yêu cầu gì khác về dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận không có tác động gì đến người có thẩm quyền nhưng nói ai nhận bao nhiêu thì ông T2 đưa bị cáo bấy nhiêu nên ông T2 đã đưa tiền 30.000.000 đồng cho bị cáo và toàn bộ tiền bị cáo nhận đo đất cho ông T2 và đất bà C đều không có bản vẽ không có hóa đơn về số tiền này. Do đó bị cáo đã thực hiện nhiều lần phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đinh tại Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c, khoản 2 Điều 174, Điều 38, Điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Chiến T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng Khoản 5 Điều 174 phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Không.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, Người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 10/2023, Mai Chiến T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 170.000.000 đồng của ông Lê Văn T2 thông qua việc nhận tiền để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C và đất của ông T2. Số tiền chiếm đoạt Mai Chiến T đã sử dụng chi tiêu cá nhân. Tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường cho ông Lê Văn T2, ông T2 đã nhận đủ tiền 170.000.000 đồng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[2] Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm c, khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã lợi dụng lòng tin của bị hại lấy tiền của bị hại mang đi chi tiêu cá nhân. Hành vi này của bị cáo ảnh hưởng đến niềm tin con người và niềm tin đối với các quan hệ xã hội khác, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông T2 có giá trị 170.000.000 đồng là hành vi gian dối, trái với pháp luật, nhận thức được hậu quả của hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s Khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX thấy cần thiết phải xử mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện, biết được giá trị công sức lao động chân chính và biết tôn trọng pháp luật. Khi lượng hình đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi của bị cáo và hậu quả của hành vi bị cáo gây ra. Do đó cần xử bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hai lần trở lên quy định tại Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ông T2 đã nhận đủ số tiền 170.000.000 đồng không yêu cầu gì về dân sự khác đối với bị cáo. Do đó HĐXX không xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Không.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo T từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù là đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện. Do đó cần xử mức án như đề nghị của Viện kiểm sát có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm c, Khoản 2, Điều 174, Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Chiến T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Chiến T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bị hại;
  • - TT lý lịch-Sở tư pháp TP Hà Nội;
  • - VKSND Q. Bắc Từ Liêm
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - TAND thành phố Hà Nội
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Lưu HS-VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lý Kế Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 233/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Mai Chiến T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger