Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 233/2024/DS-ST

Ngày 18 - 9 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1./ Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
  • 2./ Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2024/ TLST- DS, ngày 23 tháng 34 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 330/2024/QĐST-DS, ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị H (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số G, tổ L, khối G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Lưu Hải H1 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số C N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Bà H' N Byă (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số C, tiểu khu A, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/9/2023, Bà H' N Byă có vay của bà Đặng Thị H số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), không thỏa thuận lãi suất và hẹn cứ 05 ngày trả 2.000.000 đồng bằng hình thức trả góp cho đến khi trả đủ số tiền đã vay.

Tuy nhiên, sau khi nhận tiền bà H' N Byă đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà Đặng Thị H theo như thỏa thuận, mặc dù bà H đã nhiều lần yêu cầu bà H' N Byă trả tiền theo như thỏa thuận.

Nay bà Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu bà H' N Byă trả số tiền vay gốc là 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà H' N Byă trình bày:

Vào ngày 30/9/2023, tôi có vay của bà Đặng Thị H; Địa chỉ: Số G, Tổ L, khối G, phường K, thành phố B số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Khi vay không có thế chấp tài sản gì. Từ ngày vay đến nay tôi chưa trả được cho bà H số tiền nào cả. Nay bà H khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tôi phải trả cho bà H 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Tôi có ý kiến như sau: Tôi xác nhận tôi còn nợ bà Đặng Thị H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Tôi đồng ý trả cho bà H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) nhưng do khó khăn nên xin trả dần.

Tòa án đã ra Thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hỏa giải và tiến hành tống đạt cho các đương sự. Tuy nhiên, bị đơn bà H' N Byă vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa ngày 26/8/2024, bị đơn bà H' N Byă vắng mặt, lần thứ nhất không có lý do. Vì vậy, căn cứ các Điều 227, Điều 233 và Điều 235, HĐXX hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của Nguyên đơn; Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Đặng Thị H.

Buộc bà H' N Byă phải trả cho bà Đặng Thị H số tiền nợ gốc: 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết..

Về án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; Bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình xét xử vụ án, bị đơn bà H' N Byă vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó HĐXX xét xử vắng mặt Bị đơn bà H' N Byă là phù hợp với Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án: Ngày 30/9/2023, bà Đặng Thị H cho bà H' N Byă vay số tiền là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Việc vay tiền được lập thành văn bản, hẹn 05 ngày trả 2.000.000 đồng, trả dần. Tuy nhiên, bà H' N byă chưa trả được cho bà Đặng Thị H số tiền vay nào cả.

Xét quan hệ pháp luật dân sự về vay tài sản giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Do phía bà H cho rằng bà H' N đã không thực hiện việc trả nợ đúng thời hạn như cam kết theo nên đã khởi kiện vụ án là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX cần xem, xét giải quyết.

[3.1] Về số nợ gốc:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trên cơ sở lời khai của các đương sự tại Tòa án, đã có đủ cơ sở xác định: Bà H' N Byă có vay của bà Đặng Thị H số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Từ ngày vay đến nay, bà H' N Byă chưa trả cho bà H số tiền vay gốc nào cả. Bà H' N cũng thừa nhận còn nợ bà Đặng Thị H 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) và chấp nhận trả nợ cho bà H, tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần.

Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463 BLDS năm 2015. Việc bà H' N không trả được nợ khi đến hạn như cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà H' N trả nợ là có căn cứ, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc H' N có trách nhiệm trả nợ cho bà H số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) tiền gốc là phù hợp.

[3.2] Về tiền lãi:

Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 161, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 463, 465, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Đặng Thị H;

Buộc bà H' N Byă phải trả cho bà Đặng Thị H số tiền vay gốc là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

2. Về án phí:

Bị đơn bà H' N Byă phải nộp 2.000.000đ (Hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn bà Đặng Thị H được nhận lại số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0009890 ngày 16/4/2024 (Ông Lưu Hải H1 nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

* Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT;
  • - Chi cục THADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 233/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger