Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HS-ST

Ngày 15 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam.

Ông Trần Chính .

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 224/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Nguyễn Đăng K, sinh năm 2000 tại Ninh Bình; Nơi đăng ký thường trú: Số A, khu phố F, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc H (đã chết) và bà Nguyễn Tường V; Bị cáo có vợ tên Phạm Thị Hoàng P, có 02 con lớn nhất sinh năm 2019 nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2023 chuyển tạm giam từ ngày 16/8/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

- Bị hại: Ông Đỗ Hoàng T, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Minh H1, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Số E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1982;
  2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1981;
  3. Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  4. Bà Vũ Thị Kim D, sinh năm 1976;
  5. Địa chỉ: Số A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  6. Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1972;
  7. Địa chỉ: Số A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  8. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993;
  9. Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có mặt; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 01/8/2023, V1 Nguyễn Đăng K đi bộ đến đường hẻm tại Tổ A, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì nhìn thấy xe ô tô tải nhãn hiệu SUZUKI, biển số 60C-400.19 của ông Đỗ Hoàng T, sinh năm 1969, cư trú tại khu phố C, phường T, thành phố B đang đậu bên lề đường, không có người trông coi, cửa xe không khóa, có sẵn chìa khóa trên ổ khóa điện trong cabin, nên K nảy sinh ý định trộm cắp xe ô tô trên bán lấy tiền tiêu xài. K đi đến lén lút mở cửa leo lên nổ máy điều khiển xe đến tiệm mua bán phế liệu ở Ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai do chị Phạm Thị H2, sinh năm 1982 làm chủ. K nói với chị H2 xe của gia đình K không có giấy tờ và hư hỏng nhiều không sửa chữa được nên bán phế liệu. Sau khi thỏa thuận, K đồng ý bán xe cho chị H2 với giá 1.950.000đ (một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua xe, anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1981 (chồng chị H2) đã cắt xe biển số 60C-400.19 thành sắt phế liệu rồi bán cho tiệm T2 tại Khu phố T, phường P, thành phố B do chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 làm chủ (bán cùng với các phế liệu khác).

Đến ngày 03/8/2023, ông T trình báo vụ việc đến Công an phường T, thành phố B. Ngày 06/8/2023, K đến Công an phường T đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Nguyễn Đăng K khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe ô tô tải nhãn hiệu SUZUKI, biển số 60C-400.19; số máy: F10AID731335, số khung: A21THV201288 là tài sản của anh Phạm Minh H1 (em rể của ông T) cho anh T mượn để sử dụng đã bán phế liệu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

+ 01 USB chứa video vụ trộm cắp, lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

Tại Kết luận định giá tài sản số 415/KL-HĐĐGTS, ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận:

Xe ô tô biển số 60C-400.19 trị giá 147.600.000đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông T yêu cầu bị cáo K bồi thường 147.600.000₫ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số 237/CT-VKSBH ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt cho ông Đỗ Hoàng T theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, bị hại ông Đỗ Hoàng T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Minh H1 và những người làm chứng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai. Ngày 26/4/2024, ông Đỗ Hoàng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đã thể hiện rõ ý kiến của mình. Do vậy việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, không có sự mâu thuẫn, phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng, lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ ngày 01/8/2023, tại Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, V1 Nguyễn Đăng K có hành vi trộm cắp xe ô tô tải nhãn hiệu SUZUKI, biển số 60C-400.19 của ông Đỗ Hoàng T, trị giá 147.600.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo đang độ tuổi lao động, không tu chí làm ăn mà nảy sinh lòng tham muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm thu lợi bất chính. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 xe ô tô tải nhãn hiệu SUZUKI, biển số 60C-400.19; số máy: F10AID731335, số khung: A21THV201288 là tài sản của anh Phạm Minh H1 (em rể của ông T) cho anh T mượn để sử dụng đã bán phế liệu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được nên không xem xét.

+ 01 USB ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp có liên quan đến vụ án nên lưu vào hồ sơ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Xe ô tô biển số 60C-400.19 không thu hồi được, bị hại ông Đỗ Hoàng T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe ô tô biển số 60C-400.19 với số tiền 147.600.000 đồng, bị cáo đồng ý nên ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

[9] Về vấn đề khác: Đối với chị Phạm Thị H2 có hành vi mua chiếc xe ô tô biển số 60C-400.19 nhưng khi mua chị H2 không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý hình sự là đúng quy định.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường cho bị hại theo quy định.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 468, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K phải bồi thường cho ông Đỗ Hoàng T số tiền 147.600.000đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Vũ Nguyễn Đăng K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 7.380.000đ (bảy triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - Viện KSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra CA TP Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 233/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Nguyễn Đăng Khoa phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger