|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 233/2023/HS-ST Ngày 14 - 8-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lập Tiến, ông Lê Phúc Tiếng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Thư ký Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 225/2023/HSST ngày 17 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2023/HSST- QĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hữu Q, Sinh ngày 26/6/1972, tại tỉnh Gia Lai;
Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai;
Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lái xe;
Con ông: Lê Hữu N (đã chết); Con bà Nguyễn Thị H (đã chết), bị cáo có vợ: Đinh Thị Thanh B, sinh năm 1977 (đã ly hôn năm 2011); có 02 con: Con lớn sinh năm 2000; con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/3/2023 cho đến nay. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: Anh Y Kiếp B1, sinh năm 1993. (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà H Yuột B2, sinh năm 1993
Trú tại: Buôn K, xã E, huyện B, tỉnh Đắk lắk. (Có đơn xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1968.
Trú tại: Tổ dân phố F, phường I, Tp .P, tỉnh Gia Lai. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hữu Q, sinh năm: 1972; trú tại: Tổ dân phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai (đã có giấy phép lái xe ô tô hạng E, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 17/4/2020, có giá trị đến ngày 17/4/2025), là nhân viên lái xe thuê cho ông Lê Văn C, sinh năm 1968, trú tại: Tổ dân phố F, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khoảng 22 giờ 51 phút ngày 14/01/2023, Lê Hữu Q điều khiển xe ô tô biển số 81F – 001.50, loại phương tiện: ô tô khách (có giường nằm), nhãn hiệu: THACO, số loại: TB120SL, màu sơn: Đỏ Vàng Xám, số máy: WP12375N1416J056320, số khung: RN5B46SCCHC008277, lưu thông trên Quốc lộ A đi theo hướng đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo hướng từ cầu S huyện C, tỉnh Đắk Nông đến đường V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với tốc độ khoảng 55 đến 60km/h (theo lời khai của Q)có mở đèn chiếu sáng trước xe ở chế độ đèn chiếu xa (thường gọi là đèn Pha). Thời điểm này trời không có mưa, mặt đường khô ráo, đường có các trụ đèn đường đang hoạt động, mật độ phương tiện tham gia giao thông trên đường vắng. Khi xe chạy gần tới trụ đèn số 12, km 1790 + 900m đường H, thuộc thôn C, xã H, thành phố B, là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn nét đơn, đứt quãng, màu vàng phân chia thành hai phần đường xe chạy; mỗi phần đường có vạch sơn nét đơn, liền nét, màu trắng phân chia thành hai làn đường xe chạy; phần đường bên phải tính theo hướng đi của xe ô tô 81F-001.50 rộng: 5,50m, làn đường trong rộng: 1,90m; phần đường không có biển báo hiệu giao thông đường bộ; không có chướng ngại vật gây cản trở, che khuất tầm nhìn người tham gia giao thông. Cùng lúc này, có xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, - nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Cam Đen, số máy: E3X9E317501, số khung: 3240HY112493, do anh Y Kiếp B1; điều khiển (đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 30/7/2018, có giá trị: Không thời hạn), đang lưu thông trên làn đường ngoài, phía trước cùng chiều theo hướng đi của Q hướng đi của xe ô tô 81F-001.50. Do, Lê Hữu Q khi điều khiển xe ô tô 81F-001.50 đi chủ quan, thiếu chú quan sát không đảm bảo khoảng cách an toàn đối với xe đi phía trước cùng chiều, nên khi phát hiện ra xe mô tô do anh Y Kiếp B1 điều khiển phía tước thì Q đã không kịp xử lý nên đã để phía trước, bên phải xe ô tô biển số 81F – 001.50 tông vào phía sau, bên trái xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, gây ra vụ tai nạn giao thông. Sau đó Q đạp chân thắng cho xe dừng lại, đồng thời đánh tay lái sang trái và đi tới trước một đoạn rồi dùng hẳn. Xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 và anh Y K Byă trượt ngã tới trước một đoạn rồi dừng hẳn. Hậu quả: Anh Y K Byă bị thương nặng, được đưa vào Bệnh viện Đ1 cấp cứu, đến ngày 15/01/2023 thì tử vong, xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 hư hỏng nhẹ.
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra vụ tai nạn giao thông trên Quốc lộ A tại đoạn đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đây là đường hai chiều, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, rộng: 10,80m; có vạch sơn nét đơn, đứt quãng, màu vàng phân chia thành hai phần đường xe chạy; mỗi phần đường có vạch sơn nét đơn, liền nét, màu trắng phân chia thành hai làn đường xe chạy. Phần đường bên phải tính theo hướng từ cầu S huyện C, tỉnh Đắk Nông đến đường V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; mặt đường rộng: 5,50m; làn đường trong rộng: 1,90m; hai bên ngoài mặt đường là lề đất có độ rộng không cố định.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên là tại phần đường bên phải đường H, thuộc km 1790 + 900m đường H, thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh theo hướng từ cầu S đến đường V. Phần đường không có chướng ngại vật gây cản trở, che khuất tầm nhìn người tham gia giao thông; không có biển báo hiệu giao thông đường bộ.
Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn hướng từ cầu S huyện C, tỉnh Đắk Nông đến đường V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk làm hướng chuẩn. Lấy mép đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn làm mép đường chuẩn (ký hiệu: MĐC), các số đo thể hiện trên hiện trường và trong Sơ đồ hiện trường đều được đo vuông góc vào mép đường chuẩn. Lấy phía dưới trụ đèn số 12 (tại lề đất ngoài mặt đường, bên phải tính theo hướng chuẩn; đo vào mép đường chuẩn: 7,30m) làm mốc cố định. Lấy hướng Bắc làm hướng chính để mô tả trong Sơ đồ hiện trường và Biên bản khám nghiệm hiện trường. Lấy đơn vị đo là mét (m).
Vị trí hai phương tiện và các dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự, ký hiệu, mô tả cụ thể như sau:
(I) Xe ô tô khách biển số 81F – 001.50, xác định lưu thông tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn. Sau khi xảy ra vụ tai nạn xe đỗ tại hiện trường; trên mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn. Đầu xe quay về hướng đường V (hướng Đ), đuôi xe quay về hướng cầu S (hướng T). T mép ngoài lốp bánh trước, bên phải xe cách mép đường chuẩn: 1,90m; tâm mép ngoài lốp bánh sau, bên phải xe cách mép đường chuẩn: 2,30m.
(II) Xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, xác định lưu thông tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; phía trước cùng chiều với hướng đi của xe (I). Sau khi xảy ra vụ tai nạn xe ngã nghiêng qua phải; trên mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn. Đầu xe tại làn đường ngoài, quay ra mặt đường (hướng Bắc); đuôi xe tại làn đường trong, quay vào lề đất (hướng Nam). T trục bánh trước xe cách mép đường chuẩn: 3,00m và cách tâm mép ngoài lốp bánh sau, bên phải xe (I): 35,40m. T trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn: 1,80m.
(III) Vết phanh, ký hiệu: VP; xác định do bánh sau, bên phải xe (I) tạo nên trên mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; có chiều hướng theo hướng chuẩn; liền nét, có kích thước (17,70 x 0,50)m. Điểm tâm đầu vết cách mép đường chuẩn: 3,00m và cách cột H (tại lề đất ngoài mặt đường bên trái, tính theo hướng chuẩn; cách mép đường bên trái: 0,70m): 8,70m. Điểm tâm cuối vết cách mép đường chuẩn: 4,70m.
(TV) Vết cày xước, ký hiệu: VCX; xác định do xe (II) ngã tạo nên trên mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; có chiều hướng theo hướng chuẩn; đứt quãng, có kích thước (13,80 x 0,01)m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn: 3,60m và cách điểm tâm đầu vết (III): 13,50m; điểm cuối vết cách mép đường chuẩn: 2,40m.
(V) Vết cày xước, ký hiệu: VCX; xác định do xe (II) ngã tạo nên trên mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; có chiều hướng theo hướng chuẩn; đứt quãng, có kích thước (14,60 x 0,02)m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn: 3,70m; cách điểm tâm cuối vết (III): 1,50m và cách điểm đầu vết (TV): 3,10m; điểm cuối tại gác chân trước, bên phải xe (II) nơi tiếp giáp với mặt đường, cách mép đường chuẩn: 2,40m.
(VI) Vết máu, ký hiệu: VM; trên mặt đường, tại làn đường trong của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; có kích thước (0,20 x 0,20)m. T vết cách mép đường chuẩn: 0,50m và cách tâm trục bánh sau xe (II): 1,30m.
Căn cứ vào vị trí của hai phương tiện và các dấu vết để lại tại hiện trường sau vụ tai nạn giao thông trên, xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô khách biển số 81F – 001.50 với xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 tương ứng với mặt đường, tại làn đường ngoài của phần đường bên phải đường H, tính theo hướng chuẩn; cách mép đường chuẩn: 2,80m; cách điểm tâm đầu vết (III): 0,80m và cách mốc cố định: 16,40m.
Kết quả khám nghiệm tử thi anh Y Kiếp B1
* Khám bên ngoài: . Trang phục và các vật mang theo: Được gia đình thay mới; bên ngoài mặc bộ quần áo dài jean màu xanh, bên trong mặc áo thun đỏ ngắn tay, quần đùi vải màu đen.
Nhận dạng tử thi: Được gia đình và chính quyền địa phương xác định đúng là tử thị Y Kiếp B1, có lai lịch trên.
- - Chiều dài tử thi: 1,70m, thể trạng: Trung bình.
- - Tình trạng tử thi: Khô lạnh.
- - Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
- + Vùng đầu mặt: Giác mạc đục, xuất huyết kết mạc mắt, đồng tử giãn tối đa 6mm.
- + Vết bầm tím da vùng thái dương đinh chẩm và sau vành tai (T), kích thước (11 x 5)cm. Vết xây xước, bầm tím da mặt ngoài vai (T), kích thước (3x1)cm.
- + Tứ chi: Xây xước bầm tím da cột tay, mu bàn tay (T), kích thước (10 x 7)cm. Xây xước da rải rác mu bàn tay (P), kích thước (6 x 1)cm. Xây xước da mặt ngoài mắt cá chân (T), kích thước (3 x 1)cm.
* Mổ tử thi:
- + Rạch da đầu vùng thái dương đỉnh chẩm (T) thấy: Tụ máu dưới da đầu và cơ thái dương đinh chẩm (T), kích thước (10 x 6)cm. Tổn thương vỡ lún ngang xương sọ vùng thái dương đỉnh chẩm (T) phức tạp trong diện (5 x 3)cm, máu chảy nhiều qua đường vỡ.
Trong xe ô tô biển số 81F – 001.50 có camera hành trình ghi nhận lại được nội dung diễn biến vụ tai nạn giao thông đường bộ trên; đã tiến hành lập biên bản làm việc, thể hiện:
Tại mốc thời gian: Từ “2023-01-14, 22:51:12” đến “2023-01-14, 22:51:29", thấy rõ:
Bị cáo Lê Hữu Q điều khiển xe ô tô biển số 81F – 001.50 lưu thông trong trạng thái bình thường; trên đường không có phương tiện nào.
- Tại mốc thời gian: “2023-01-14 22:51:30”, thấy rõ:
- + Phía trước, bên phải cùng chiều với hướng đi của xe ô tô biển số 81F – 001.50 do bị cáo Lê Hữu Q điều khiển có xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 do anh Y Kiếp B1 điều khiển đang lưu thông.
- + Lúc này, phía trước, bên phải xe ô tô biển số 81F – 001.50 đi sát phía sau, bên trái xe mô tô biển số 48D1 – 271.68.
- Tại mốc thời gian:“2023-01-14 22:51:31”, thấy rõ:
- + Khi phát hiện xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 thì bị cáo Lê Hữu Q đánh tay lái sang trái để tránh nhưng không kịp, đã để phía trước, bên phải xe ô tô biển số 81F – 001.50 tông vào phía sau, bên trái xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 do anh Y Kiếp B1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều, gây ra vụ tai nạn giao thông; đồng thời hất văng anh Y K Byă qua phía bên phải theo hướng đi và té ngã trên mặt đường.
Tạm giữ và xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thànhphố B3 tạm giữ: 01 xe ô tô biển số 81F – 001.50; loại phương tiện: ô tô khách (có giường nằm); nhãn hiệu: THACO; số loại: TB120SL; màu sơn: Đỏ Vàng Xám; số máy: WP12375N1416J056320; số khung: RN5B46SCCHC008277; 01 xe mô tô biển số 48D1 – 271.68; nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: SIRIUS; màu sơn; Cam Đen; số máy: E3X9E317501; số khung: 3240HY112493; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 17/4/2020, có giá trị đến ngày 17/4/2025 mang tên Lê Hữu Q.
Về phần dân sự của vụ án:
Bị cáo Lê Hữu Q và anh Lê Văn C đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Y K Byă chi phí mai táng cho anh Y Kiếp B1 với số tiền là: 150.000.000 đồng, chị H Yuột B2, vợ và là người đại diện hợp pháp của anh Y Kiếp B1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn bãi nại cho anh Q và anh C.
- Về phương tiện hư hỏng: Anh Q và anh C tự chịu trách nhiệm sửa chữa xe ô tô biển số 81F – 001.50 hư hỏng. Chị H Yuột B2 tự chịu trách nhiệm sửa chữa xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 hư hỏng.
Cáo trạng số 228/CT-VKS-HS ngày 16/07/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Hữu Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lê Hữu Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hữu Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền 150.000.000đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã làm đơn bãi nại cho bị cáo nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe ô tô biển số 81F – 001.50 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Văn C là phù hợp,
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, các giấy tờ liên quan đến xe và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của anh Y Kiếp B1 cho chị H Yuột Bkrông là người đại diện hợp pháp của anh Y Kiếp B1 là phù hợp.
Đối với, 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 17/4/2020, có giá trị đến ngày 17/4/2025 mang; tên Lê Hữu Q, cần trả lại cho bị cáo Q, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thì hành án.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xãhội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an B3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng pháp luật.
[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 51 phút ngày 14/01/2023, Lê Hữu Q, điều khiển xe ô tô biển số 81F – 001.50, lưu thông trên Quốc lộ A đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đi theo hướng từ cầu S huyện C tỉnh Đắk Nông đến đường V, thành phố B, do Q điều khiển xe ô tô biển số 81F – 001.50 đi không đảm bảo khoảng cách an toàn thiếu chú ý quan sát đã để phía trước, bên phải xe tông vào phía sau, bên trái xe mô tô biển số 48D1 – 271.68 do anh Y Kiếp B1 điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều tham gia giao thông. Hậu quả: Anh Y Kiếp B1 tử vong.
Hành vi của Lê Hữu Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợpsau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Hữu Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của người bị hại, đồng thời còn gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải nhận thức được khi tham gia giao thông phải luôn có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật giao thông đường bộ, nhưng ngày 14/01/2023 bị cáo điều khiển xe không tuân thủ quy định về an toàn giao thông, khi điều khiển xe không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm anh Y Kiếp Byă tử vong. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Y Kiếp B1 và được gia đình bị hại viết đơn bãi nại, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang 01 con nhỏ bị bệnh khuyết tật bẩm sinh. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét thấy bị cáo Lê Hữu Q có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình phối hợp giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền 150.000.000đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe ô tô biển số 81F – 001.50 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Văn C là phù hợp,
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, các giấy tờ liên quan đến xe và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của anh Y Kiếp B1 cho chị H Yuột Bkrông là người đại diện hợp pháp của anh Y Kiếp B1 là phù hợp.
- Đối với, 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 17/4/2020, có giá trị đến ngày 17/4/2025 mang tên Lê Hữu Q, cần trả lại cho bị cáo Q.
[7]. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu Q 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Hữu Q cho UBND phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền 150.000.000đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe ô tô biển số 81F – 001.50 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Văn C là phù hợp,
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an B3 trả lại vật chứng là xe mô tô biển số 48D1 – 271.68, các giấy tờ liên quan đến xe và giấy phép lái xe mô tô hạng A1 của anh Y Kiếp B1 cho chị H Yuột Bkrông là người đại diện hợp pháp của anh Y Kiếp B1 là phù hợp.
Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, số: [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 17/4/2020, có giá trị đến ngày 17/4/2025 mang tên Lê Hữu Q.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Hữu Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Đôn |
Bản án số 233/2023/HS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)
- Số bản án: 233/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Q bị xét xử về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
