|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 233/2024/DS-PT Ngày: 14-05-2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Những.
Bà Trịnh Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 144/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hà Thị T, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hà Văn N, sinh năm 1948. Địa chỉ: Số nhà G, Quốc lộ F, thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 10/5/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Văn L - Đoàn Luật sư tỉnh L.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn O, sinh năm 1953.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1950.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
- Ông Hà Văn N, sinh năm 1948.
Địa chỉ: Số nhà G, Quốc lộ F, thành phố T, tỉnh Long An.
- Bà Võ Thị H, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số nhà A, Ấp A, xã Q, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Hà Văn N, sinh năm 1948.
- Người kháng cáo: Bà Hà Thị T.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
( Ba Tám, ông N, ông K, bà X có mặt;
Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Hà Thị T trình bày như sau:
Bà là người sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.792,6m², loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Giáp ranh với thửa đất số 10 của bà là thửa đất số 28 của ông Phạm Văn K.
Năm 2018, khi thửa đất số 28 vẫn còn là của ba ông K tên Phạm Văn O thì gia đình 02 bên đã thỏa thuận xác định ranh giới 02 thửa đất. Theo đó bà đã cắm 03 trụ bê tông (thẳng hàng), từ hàng cột này đo về phía thửa đất số 28 thì thửa đất số 10 của bà vẫn còn khoảng 01m chiều ngang, chiều dài hết thửa đất số 10 để bà sử dụng làm lối đi chung với gia đình ông O (Có biên bản do ông O ký tên).
Trong quá trình sử dụng, gia đình ông K thường xuyên chạy xe tải trên lối đi chung làm cho đất bị sạt lở nên năm 2021, bà đã cắm thêm 11 trụ bê tông theo hàng cột ban đầu và sau đó ông K đã lén lút cắm thêm một số trụ bê tông để làm dày thêm hàng cột này. Năm 2022, lợi dụng do bà ở xa nên ông K đã tiến hành xây hàng rào tại vị trí hàng cột này và đã lợp tole để lấn phần đất mà trước đây bà đã chừa ra làm để lối đi, với diện tích theo Mảnh trích đo địa chính số 306-2023, ngày 16/10/2023 là 36,7m².
Hiện tại phần đất 36,7m² tranh chấp này, ông K sử dụng đồng thời cha mẹ của ông K là ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X cũng sử dụng để đi vào nhà của ông O, bà X.
Do đó, nay bà yêu cầu ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả cho bà phần đất có diện tích 36,7m² nêu trên.
Bị đơn ông Phạm Văn K trình bày:
Ông là người sử dụng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.347,1m², tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Nguồn gốc thửa đất do cha của ông tên Phạm Văn O tặng cho ông vào năm 2019.
Giáp ranh với thửa đất 28 là thửa đất số 10 của bà T, từ năm 2018 thì gia đình 02 bên đã tiến hành cắm cột để làm ranh giới đất như bà T đã trình bày. Tuy nhiên ông xác định hàng cột này là ranh đất chứ không phải từ hàng cột này vào đất của ông thêm khoảng 01m nữa mới là ranh đất như bà T trình bày.
Năm 2022 ông đã tiến hành đổ bê tông, dựng 01 phần hàng rào và lợp mái tole trên phần đất này. Việc ông đổ đường, làm hàng rào và lợp tole diễn ra trong thời gian rất lâu nhưng bà T không có ý kiến phản đối gì.
Do ông không có lấn đất của bà T, vì vậy ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X cùng trình bày:
Thửa đất 28 trước đây là của ông O, bà X, đến năm 2019 thì ông O tặng cho ông K thửa đất này.
Ông, bà xác định hàng rào mà ông K đã xây là xây đúng ngay ranh đất giữa 02 thửa đất. Chính bà T là người cắm 03 cây cột ban đầu, sau đó đến năm 2021 bà T đã thuê người cắm thêm 11 cây cột nữa để làm ranh đất. Do đó ông, bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T về việc yêu cầu ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả cho bà 36,7m² đất tại khu A theo mảnh trích đo địa chính số 306-2023 duyệt ngày 16/10/2023.
- Xác định phần đất diện tích 36,7m² (Vị trí A), tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Long An thuộc thửa đất số 28 của ông Phạm Văn K.
Các đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn về quản lý đất đai để tiến hành đăng ký, điều chỉnh diện tích thửa đất đúng với thực tế hiện trạng sử dụng.
(Phần đất diện tích 36,7m² (Vị trí A) nêu trên theo mảnh trích đo địa chính số 306-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ và ký duyệt ngày 16/10/2023).
- Về chi phí tố tụng: Bà Hà Thị T phải chịu 6.744.200 đồng (Sáu triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn hai trăm đồng), bà T đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hà Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 11/01/2024, bà Hà Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Ngày 29/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Hà Văn N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Theo biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2018 thì ranh giới giữa hai thửa đất của ông O và bà T là lối đi chung tính từ cột mốc đã được hai bên cắm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của ông K là không phù hợp, theo mảnh trích đo thể hiện thì phần đất tranh chấp thuộc thửa số 10 của bà T nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà T, buộc phía bị đơn phải tháo dỡ phần mái che và hàng rào trả lại đất cho bà T. Tuy nhiên ông đồng ý để phần đất này làm lối đi chung giữa hai thửa đất theo biên bản thỏa thuận giữa hai bên.
Bị đơn ông Phạm Văn K trình bày: Phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của ông. Do cha ông là ông O không rành nên ký vào biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2018, nhưng ranh đất giữa hai thửa đất là các cột bê tông bên nguyên đơn đã cắm, sau đó ông cắm thêm, ranh đất không phải là lối đi chung nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Căn cứ biên bản thỏa thuận ngày 10/10/2018 đã thể hiện rõ các bên thống nhất ranh giới giữa thửa đất số 10 của bà T và thửa đất số 28 của ông O (sau đó ông O tặng cho ông K) là một lối đi chung, toàn bộ phần đất tranh chấp nằm trong thửa số 10 của bà T nhưng bị đơn làm mái che và hàng rào sử dụng riêng là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa số 28 của ông K là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T, đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà T. Tuy nhiên nguyên đơn cũng đồng ý để phần đất này làm lối đi chung giữa hai thửa, phía bị đơn không được rào chắn sử dụng riêng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Hà Thị T thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo của bà Hà Thị T, nhận thấy:
Bà Hà Thị T cho rằng bên ông K đã rào bít lối đi chung nên bà T khởi kiện yêu cầu ông K, ông O và bà X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả 36,7m² đất cho bà T.
Căn cứ văn bản thỏa thuận ngày 10/10/2018 về việc cắm mốc ranh giới đất giữa bà T và ông Phạm Văn O (cha ông Phạm Văn K) có nội dung:
“Phần ruộng đang trồng lúa của bà Hà Thị T được tính từ cột mốc ra tới bờ kênh KC2. Diện tích trồng lúa của bà T được tính từ cột mốc đã được xác định.
Ranh giới giữa hai thửa đất của ông O và bà T là lối đi chung tính từ cột mốc đã được hai bên cắm”.
Căn cứ nội dung thỏa thuận trên, có cơ sở xác định ranh giới giữa 2 thửa đất số 10 của bà T và thửa đất số 28 của ông K (được ông O tặng cho năm 2019) là một lối đi chung, lối đi này tính từ cột mốc hai bên cắm.
Theo mảnh trích đo địa chính số 3 – 2024 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 09/01/2024 thì phần đất tranh chấp tại Khu A có diện tích 36,7m² nằm trong thửa số 10 của bà Hà Thị T. Thửa đất số 10 của bà T có diện tích đo đạc thực tế là 1.668,5m² + Khu B 35,6m² + Khu C 29,7m² = 1.733,8m², nếu cộng phần đất tranh chấp 36,7m2 thì tổng diện tích 1.770,5m², so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp là 1.792,6m² thì thửa đất số 10 của bà T còn thiếu 22,1m². Thửa đất số 28 của ông K có diện tích đo đạc thực tế là 1.317,3m² + Khu D 31m² + Khu E14,2m² + Khu F 0,7m², nếu cộng luôn phần đất tranh chấp 36,7m² thì tổng diện tích 1.399,9m², so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông K được cấp là 1.347,1m² thì thửa đất số 28 của ông K dư 52,8m².
Thấy rằng, theo văn bản thỏa thuận về việc cắm mốc ranh giới ngày 10/10/2018 giữa bà T và ông O có 02 ý: Thứ nhất là xác định diện tích đất trồng lúa của bà Hà Thị T “Phần ruộng đang trồng lúa của bà Hà Thị T được tính từ cột mốc ra tới bờ kênh KC2. Diện tích trồng lúa của bà T được tính từ cột mốc đã được xác định”; Thứ hai là xác định lối đi chung giữa 2 thửa đất “Ranh giới giữa
hai thửa đất của ông O và bà T là lối đi chung tính từ cột mốc đã được hai bên cắm".
Phân tích từ nội dung văn bản thỏa thuận ngày 10/10/2018, có cơ sở xác định ranh giới giữa 2 thửa đất số 10 của bà T và thửa đất số 28 của ông K (được ông O tặng cho) là một lối đi chung tính từ cột mốc hai bên cắm. Việc các bên thỏa thuận cắm mốc ranh là để xác định diện tích đất bà T được quyền sử dụng đất để trồng lúa, điều này không đồng nghĩa với việc xác định diện tích quyền sử dụng đất hợp pháp của bà T chỉ tính từ cột mốc đã xác định, mà bà T còn được quyền sử dụng quyền về lối đi chung. Tuy nhiên, hiện nay bên ông K và ông O, bà X đã rào bít lối đi chung này nên bà T khởi kiện.
Căn cứ văn bản thỏa thuận ngày 10/10/2018, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K và Mảnh trích đo địa chính số 306 – 2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 16/10/2023 như phân tích ở phần trên thì bà T khởi kiện yêu cầu ông K, ông O và bà X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole là có cơ sở. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T là không phù hợp. Như vậy bà T kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Ngoài ra, trong vụ án này, bà Hà Thị T chỉ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O, bà Nguyễn Thị X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả lại cho bà T 36,7m² đất tại khu A theo mảnh trích đo địa chính số 306. Ông Phạm Văn K không có yêu cầu phản tố đối với việc xác định phần đất tranh chấp 36,7m² tại khu A theo Mảnh trích đo 306 mà Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên “Xác định phần đất diện tích 36,7m² (Vị trí A), tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp C, xã Q, huyện T, tỉnh Long An thuộc thửa đất số 28 của ông Phạm Văn K” là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
Như vậy xét thấy, Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân tỉnh Long An có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày đồng ý để phần đất tranh chấp này sử dụng để làm lối đi chung. Vì vậy cần ghi nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An, chấp nhận kháng cáo của bà T, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn đồng ý để phần đất tranh chấp sử dụng làm lối đi chung. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Hà Thị T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông O.
- Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Hà Thị T yêu cầu ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole trả phần đất có diện tích 36,7m².
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Hà Thị T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
- Xét kháng cáo của bà Hà Thị T, thấy rằng:
- Bà Hà Thị T là người sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.792,6 m², loại đất LUA, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Nguồn gốc đất là của cha mẹ để lại.
Ông Phạm Văn K là người sử dụng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.347,1 m², loại đất LUA, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Nguồn gốc thửa đất 28 trước đây là của ông Phạm Văn O (cha ruột ông K), ngày 028/3/2019, ông O, bà X tặng cho ông K toàn bộ thửa đất này.
Phần đất các đương sự tranh chấp là phần giáp ranh giữa thửa đất số 10 và thửa đất số 28. Vị trí phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 306/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đo vẽ duyệt ngày 16/10/2023 tại vị trí khu A có diện tích là 36,7 m².
- Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự trình bày không thống nhất: Nguyên đơn cho rằng ranh giới giữa hai thửa đất là lối đi chung nhưng bên ông K đã rào bít lối đi chung nên bà T khởi kiện yêu cầu ông K, ông O và bà X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả lại phần đất có diện tích 36,7 m² đất cho bà T. Bị đơn cho rằng ranh đất là các cột bê tông nguyên đơn đã cắm nên bị đơn làm hàng rào tại các vị trí cột bê tông có sẵn.
- Diện tích đo đạc các thửa đất theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 306/2023 được thể hiện như sau:
Thửa đất số 10 của bà T có diện tích đo đạc thực tế là 1.668,5 m² + khu B 35,6 m² + khu C 29,7 m² = 1.733,8 m², nếu cộng luôn phần đất tranh chấp 36,7 m² thì có tổng diện tích 1.770,5 m², như vậy so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp là 1.792,6 m² thì thửa đất số 10 của bà T còn thiếu 22,1m².
- Bà Hà Thị T là người sử dụng thửa đất số 10, tờ bản đồ số 14, diện tích 1.792,6 m², loại đất LUA, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Nguồn gốc đất là của cha mẹ để lại.
Thửa đất số 28 của ông K có diện tích đo đạc thực tế là 1.317,3 m² + khu D 31 m² + khu E 14,2 m² + khu F 0,7 m², nếu cộng luôn phần đất tranh chấp 36,7 m² thì có tổng diện tích 1.399,9 m², như vậy so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông K được cấp là 1.347,1 m² thì thửa đất số 28 của ông K dư 52,8 m².
Căn cứ theo Mảnh trích đo thì phần đất tranh chấp 36,7 m² thuộc hoàn toàn trong thửa đất số 10 của bà Hà Thị T.
- Trong quá trình quản lý, sử dụng đất thì vào ngày 10/10/2018 bà Hà Thị T (do ông Hà Văn N đại diện) và ông Phạm Văn O (cha ông Phạm Văn K) có ký văn bản thỏa thuận về việc cắm mốc ranh giới đất giữa bà T và ông O, có nội dung: “Phần ruộng đang trồng lúa của bà Hà Thị T được tính từ cột mốc ra tới bờ kênh KC2. Diện tích trồng lúa của bà T được tính từ cột mộc đã được xác định. Ranh giới giữa hai thửa đất của ông O và bà T là lối đi chung tính từ cột mốc đã được hai bên cắm”.
Thấy rằng, theo văn bản thỏa thuận về việc cắm mốc ranh giới ngày 10/10/2018 giữa bà T và ông O, có 02 nội dung: Thứ nhất là xác định diện tích đất trồng lúa của bà Hà Thị T “Phần ruộng đang trồng lúa của bà Hà Thị T được tính từ cột mốc ra tới bờ kênh KC2. Diện tích trồng lúa của bà T được tính từ cột mốc đã được xác định”. Thứ hai là xác định “ranh đất giữa hai thửa đất của ông O và bà T là lối đi chung tính từ cột mốc đã được hai bên cắm”.
Theo nội dung văn bản thỏa thuận ngày 10/10/2018, có cơ sở xác định ranh giới giữa 2 thửa đất số 10 của bà T và thửa đất số 28 của ông K (được ông O tặng cho) là một lối đi chung. Theo mảnh trích đo địa chính số 306 - 2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 16/10/2023 thì phần đất tranh chấp có diện tích 36,7 m² (khu A) nằm hoàn toàn trong thửa số 10 của bà Hà Thị T. Phần đất nguyên đơn tranh chấp chỉ là một phần diện tích của lối đi chung (các đương sự xác định lối đi hiện nay chiều ngang hơn 2m x chiều dài 27,49m).
Việc các bên thỏa thuận cắm mốc ranh là để xác định diện tích đất bà T được quyền sử dụng đất để trồng lúa, điều này không đồng nghĩa với việc xác định diện tích quyền sử dụng đất hợp pháp của bà T chỉ tính từ cột mốc đã xác định, mà bà T còn được quyền sử dụng quyền về lối đi chung. Tuy nhiên, hiện nay bên ông K và ông O, bà X đã rào bít lối đi chung này nên ảnh hưởng quyền lợi của bà T. Căn cứ văn bản thỏa thuận ngày 10/10/2018, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K và diện tích đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo địa chính số 306 - 2023 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T ký duyệt ngày 16/10/2023 như phân tích ở phần trên thì bà T khởi kiện yêu cầu ông K, ông O và bà X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole là có căn cứ.
Ngoài ra, trong vụ án này, bà Hà Thị T chỉ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O, bà Nguyễn Thị X liên đới tháo dỡ hàng rào, mái tole để trả lại cho bà T 36,7m² đất tại khu A theo mảnh trích đo địa chính số 306. Ông Phạm Văn K không có yêu cầu phản tố đối với việc xác định phần đất
tranh chấp 36,7m² tại khu A theo Mãnh trích đo bản đồ địa chính số 306/2023 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại tuyên “Xác định phần đất diện tích 36,7 m² (Vị trí A), tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp C, xã Q, huyện T, tinh L thuộc thửa đất số 28 của ông Phạm Văn K” là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.
- Từ những phân tích trên, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý để phần đất tranh chấp làm lối đi chung giữa hai thửa, chỉ yêu cầu bên bị đơn tháo dỡ phần mái che và hàng rào không được rào chắn phần đất này để sử dụng riêng. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận, phần đất tranh chấp tại khu A có diện tích 36,7 m² các bên được sử dụng làm lối đi chung.
- Xét thấy kháng cáo của bà Hà Thị T có căn cứ nên chấp nhận.
- Xét thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.744.200 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu chi phí này. Bà T đã tạm nộp nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà T số tiền 6.744.200 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Hà Thị T được chấp nhận nên không phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hà Thị T.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 100, Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị T đối với ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Xác định phần đất tranh chấp có diện tích 36,7m² (khu A) thuộc quyền sử dụng đất của bà Hà Thị T (thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ 14, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An).
Buộc ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ hàng rào lưới B40, mái tole tại phần đất có diện tích 36,7m² (khu A) thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ 14, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An do bà Hà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vị trí, diện tích phần đất tranh chấp 36,7m² tại khu A được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 306/2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đo vẽ duyệt ngày 16/10/2023.
Các đương sự được quyền liên hệ với các cơ quan chuyên môn về quản lý đất đai để tiến hành đăng ký, điều chỉnh diện tích thửa đất đúng với thực tế hiện trạng sử dụng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hà Văn N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Hà Thị T: Phần đất có diện tích 36,7m² (khu A) thuộc thửa đất số 10, tờ bản đồ 14, tọa lạc tại xã Q, huyện T, tỉnh Long An do bà Hà Thị T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sử dụng làm lối đi chung.
- Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm:
Ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải liên đới chịu 6.744.200 đồng. Bà T đã tạm nộp nên ông K, ông O và bà X phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà T số tiền 6.744.200 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn O và bà Nguyễn Thị X phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hà Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 233/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 233/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
