Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/DS-ST

Ngày: 12-7-2024

V/v tranh chấp hợp

đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tố Nhân

Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Lệ Thu

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7,

Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị

Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 141/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người

đại diện theo ủy quyền: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Lầu E, Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Dương Thị T, Sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án thể hiện như sau:

Ngày 24/4/2018, bà T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 548.093.712 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 532.934.000 đồng, (thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa

vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 23/6/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/12/2023 là 73.730.586 đồng, trong đó, nợ gốc: 33.956.842 đồng, lãi quá hạn: 39.773.744 đồng.

Tính đến ngày 10/5/2024 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 80.440.474 đồng, trong đó, nợ gốc: 33.956.842 đồng, lãi quá hạn: 46.483.632 đồng. Và bà T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 11/5/2024 đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 12/7/2024 ông Thân Lê Nguyên đại d nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà T trả số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/7/2024 là 83.221.546 đồng, trong đó nợ gốc là 33.956.842 đồng, nợ lãi là 49.264.704 đồng, và bà T phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự vì vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu bị đơn bà Dương Thị T trả số tiền vay còn nợ, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp hợp đồng dân sự” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn bà Dương Thị T cư trú tại Quận G tại thời điểm ký Hợp đồng với nguyên đơn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Xét xử vắng mặt đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử văng mặt các đương sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bà Dương Thị T, và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Mặt khác theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận G thì “đương sự Dương Thị T có đăng ký thường trú nhưng không thực tế cư trú tại số A T, phường T, Quận G từ tháng 5/2022 đến nay”. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự và theo hướng dẫn tại Điều 5 và 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì, “...trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về nơi cư trú làm cho người khởi kiện không biết nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện.... thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung”, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T trả khoản tiền còn nợ trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

[2.2] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/4/2018 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì bà T được Ngân hàng cấp Thẻ tín dụng quốc tế Visa có hạn mức là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất được áp dụng theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ, lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 2,6%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 548.093.712 đồng, và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 532.934.000 đồng. Do bà T vi phạm thời hạn trả nợ nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn từ ngày 23/6/2021.

Ngày 11/5/2023 Ngân hàng ra Thông báo khởi kiện bà T vì khoản nợ đã quá hạn trên 777 ngày, tổng dư nợ là 64.283.770 đồng, và gia hạn cho bà T trong thời hạn 7 ngày phải thanh toán khoản nợ, nhưng bà T vẫn chưa trả nợ cho Ngân hàng.

Tính đến ngày khởi kiện 10/12/2023 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 73.730.586 đồng, trong đó, nợ gốc: 33.956.842 đồng, lãi quá hạn: 39.773.744 đồng.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/7/2024 bà T còn nợ Ngân hàng số tiền là 83.221.546 đồng, trong đó nợ gốc là 33.956.842 đồng, nợ lãi là 49.264.704 đồng.

Theo quy định tại Điều 463, và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 "bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”, do bị đơn vi phạm thời hạn trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ là phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn đối với bị đơn: Ngày 23/6/2021 bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chuyển số tiền nợ sang nợ quá hạn. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tại thời điểm phát hành Thẻ là 2.6%/tháng là

hoàn toàn tự nguyện, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Theo khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín tụng thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong các hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Như vậy theo các hợp đồng tín dụng nói trên, bà T đồng ý thỏa thuận và ký hợp đồng với nguyên đơn, nghĩa là mặc nhiên đồng ý thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nguyên đơn các khoản phải trả trong kỳ, chịu các phí, lãi suất phát sinh nếu có. Do đó Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng.

[3] Đối với các nội dung mà đương sự không yêu cầu, căn cứ quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 cùng quan điểm với Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp. Bà T phải chịu án phí là 4.161.077 đồng.

Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227; 228; 266; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí,

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Buộc bị đơn bà Dương Thị T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vay còn nợ là 83.221.546 đồng, (tám mươi ba triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 33.956.842 đồng, nợ lãi là 49.264.704 đồng, và bà T phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.

Đôi bên đương sự thi hành tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

[2] Án phí dân sự sơ thẩm là 4.161.077 đồng (bốn triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng), bị đơn bà Dương Thị T phải chịu.

[3] Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.843.265 đồng (một triệu tám trăm bốn mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng) theo biên lai số 0038048 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TPHCM;
  • - VKS nhân dân Q7, TPHCM;
  • - Chi cục THADS Q7, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Tố Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 233/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Buộc bị đơn bà Dương Thị Thủy có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền vay còn nợ là 83.221.546 đồng, (tám mươi ba triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 33.956.842 đồng, nợ lãi là 49.264.704 đồng, và bà Thủy phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký. Đôi bên đương sự thi hành tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền. [2] Án phí dân sự sơ thẩm là 4.161.077 đồng (bốn triệu một trăm sáu mươi mốt ngàn không trăm bảy mươi bảy đồng), bị đơn bà Dương Thị Thủy phải chịu. [3] Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.843.265 đồng (một triệu tám trăm bốn mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng) theo biên lai số 0038048 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. [4] Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger