Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 233/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12 – 6 – 2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
  2. Bà Nguyễn Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ H, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G vắng mặt, cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 01 tháng 12 năm 2017. Quá trình chung sống, bà H và ông G chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Gia đình đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 05/2023 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông G. Ông G đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về con chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G thống nhất quá trình chung sống có hai con chung tên: Lê Quốc K, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc H1, sinh ngày 28/9/2016. Con chung hiện đang chung sống với bà H. Bà H và ông G thống nhất bà H được tiếp tục nuôi dạy hai con chung, ông G không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Nguyễn Văn G để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/5/2024 nhưng ông G vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự.

Ngày 27/5/2024, bà Lê Thị H có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa. Ông Nguyễn Văn G cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt vào ngày 30/5/2024.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Lê Thị H giao nộp: Giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 01/12/2017 của UBND xã K, huyện A (bản sao); giấy khai sinh mang tên Lê Quốc K, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc H1, sinh ngày 28/9/2016 (bản sao); Căn cước công dân mang tên Lê Thị H (bản sao); Đơn yêu cầu ngày 27/5/2024 (bản chính).

Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Văn G giao nộp: Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 30/5/2024.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh ngày 28/5/2024; biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 27/5/2024; biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn G ngày 30/5/2024.

Tại phiên tòa, do bà H và ông G đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 27/5/2024, ông Lê Văn Ở cho biết: Ông Ở là cha ruột của bà Lê Thị H. Ông Ở trình bày thống nhất với bà Lề Thị H2 về điều kiện và thời gian đi đến hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian bà H2 và ông G sống ly thân. Quá trình chung sống, bà H2 và ông Giàu c hai con chung tên: Lê Quốc K và Lê Quốc H1, con chung hiện đang sống cùng bà H2. Ông Ở có yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho bà H2 và ông G ly hôn. Ông Ở yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do bận công việc làm ăn.

Theo biên bản xác minh ngày 28/5/2024, đại diện Ban ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang cho biết: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1996 có đăng ký hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. Đại diện ban ấp không nắm rõ mâu thuẫn gia đình giữa bà H2 và ông G.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên, cháu Lê Quốc K và cháu Lê Quốc H1 cùng có nguyện vọng sống cùng bà H2 sau khi bà H2 và ông G ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị H; về con chung, đề nghị giao con chung tên Lê Quốc K, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc H1, sinh ngày 28/9/2016 cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng, ông G không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung; về tài sản chung và nợ chung, bà H và ông G khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, ông G không phải chịu án phí.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Lê Thị H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn G cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Văn Giàu c1 nơi thường trú tại: Tổ D, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 01 tháng 12 năm 2017. Quá trình chung sống, bà H và ông G chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Gia đình đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng cũng không thể hàn gắn. Cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 05/2023 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Bà H yêu cầu được ly hôn với ông G và ông G đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông G đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G thống nhất quá trình chung sống có hai con chung tên: Lê Quốc K, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc H1, sinh ngày 28/9/2016. Con chung hiện đang chung sống với bà H.

Sau khi xem xét nguyện vọng của con chung và yêu cầu của các đương sự, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà H được tiếp tục nuôi dạy hai con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà H và ông G về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà H và ông G vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc ông G không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà H và ông G về việc ông G không phải cấp dưỡng để nuôi con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Ông Nguyễn Văn G cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Lê Thị H. Ngược lại, bà Lê Thị H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Nguyễn Văn G không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn Giàu c1 quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 53; các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn G.
  2. Về con chung: Bà Lê Thị H được trực tiếp nuôi dạy hai con chung tên: Lê Quốc K, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc H1, sinh ngày 28/9/2016. Ông Nguyễn Văn G không phải cấp dưỡng để nuôi con chung.

    Ông Nguyễn Văn G cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Lê Thị H. Ngược lại, bà Lê Thị H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009422 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

    Ông Nguyễn Văn G không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Lê Thị H và ông Nguyễn Văn G. Bà H và ông Giàu c1 quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Khánh An, huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 233/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Huyền và ông Nguyễn Văn Giàu tự tìm hiểu, quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 110 ngày 01 tháng 12 năm 2017. Quá trình chung sống, bà Huyền và ông Giàu chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Gia đình đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng không thể hàn gắn. Cả hai đã sống ly thân nhau từ tháng 05/2023 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Huyền yêu cầu được ly hôn với ông Giàu. Ông Giàu đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Huyền. Về con chung: Bà Lê Thị Huyền và ông Nguyễn Văn Giàu thống nhất quá trình chung sống có hai con chung tên: Lê Quốc Kiệt, sinh ngày 05/5/2014 và Lê Quốc Huy, sinh ngày 28/9/2016. Con chung hiện đang chung sống với bà Huyền. Bà Huyền và ông Giàu thống nhất bà Huyền được tiếp tục nuôi dạy hai con chung, ông Giàu không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Huyền và ông Nguyễn Văn Giàu thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger