TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 233/2024/HS-PT Ngày: 09-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Thanh Mỹ.
Ông Nguyễn Ngọc Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 09/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 188/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trần Ngọc N. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Ngọc N, sinh năm: 1978 tại Tiền Giang; Đăng ký HKTT: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Cha tên: Trần Quốc V (Đã Chết); Mẹ tên: Huỳnh Thị X, sinh năm: 1958; Vợ: Lê Thị Kim N1, sinh năm: 1979; Con: Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền sự: Bị Công an thị trấn M, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC ngày 25/7/2023, đóng phạt xong ngày 04/8/2023; Tiền án: Không; Tạm giữ và tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Ngọc N: Luật sư Nguyễn Thị Tuyết T-Văn phòng L thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo đã bị Công an thị trấn M, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC ngày 25/7/2023, đóng phạt xong ngày 04/8/2023. Đến khoảng 14 giờ, ngày 15/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp Công an thị trấn M, huyện T kiểm tra phát hiện bị cáo và các đối tượng Lê Minh N2, Nguyễn Thanh T1, Lê Thanh T2, Chế Văn Vi K, Hà Thanh P, Nguyễn Văn T3, Võ Đinh Quốc T4, Võ Văn T5 đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền tại quán bán nước giải khát của anh Đoàn Quốc X1 thuộc khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên lập biên bản làm việc và thu giữ nhiều tang vật có liên quan.
Quá trình điều tra đã xác định được, liền trước thời điểm bị phát hiện, bị cáo sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung của mình đăng nhập vào trang web scv.388.com để xem trực tuyến các trận đá gà đang diễn ra tại trường G (Campuchia) và cá cược thắng thua bằng tiền với một người chưa rõ nhân thân mà bị cáo gặp tại quán nước của anh X1 bằng việc chọn gà quấn băng keo màu xanh hoặc đỏ trên chân. Đến khi bị phát hiện, bị cáo đã cá cược với người này 03 trận với số tiền lần lượt là 2.000.000 đồng, 1.000.000 đồng và 2.000.000 đồng. Kết quả 01 thắng, 02 thua, các bên đã chung chi xong. Tham gia vào việc cá cược còn có anh Lê Minh N2 cùng hùn tiền với bị cáo. Cụ thể như sau:
- - Trận thứ nhất: Bị cáo và anh N2 mỗi người hùn 1.000.000 đồng, chọn gà đỏ để cá cược với người lạ mặt. Kết quả gà đỏ thắng, với tỷ lệ tiền thắng cược là 80%, bị cáo và anh N2 thắng được mỗi người 800.000 đồng, đã chung chi xong.
- - Trận thứ hai: Bị cáo và anh N2 mỗi người hùn 500.000 đồng, chọn gà xanh để cá cược với người lạ mặt. Kết quả gà xanh thua, với tỷ lệ tiền thắng cược là 100%, bị cáo và anh N2 thua mỗi người 500.000 đồng, đã chung chi xong.
- - Trận thứ ba: Bị cáo và anh N2 mỗi người hùn 1.000.000 đồng, chọn gà xanh để cá cược với người lạ mặt. Kết quả gà xanh thua, với tỷ lệ tiền thắng cược là 100%, bị cáo và anh N2 thua mỗi người 1.000.000 đồng, đã chung chi xong.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo và anh N2 dùng để đánh bạc trong 03 trận gà là 3.300.000 đồng mỗi người.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, bị cáo Trần Ngọc N có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Trần Ngọc N bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn là lao động chính đang nuôi mẹ già bị bệnh và hai con nhỏ đây là tình tiết mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
* Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu: Bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nghề nghiệp ổn định tại địa phương. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã đóng phạt theo quyết định bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án phạt cải tạo không giam giữ, án treo hoặc hình phạt khác nhẹ hơn mức án sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo hoặc hình phạt khác nhẹ hơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người liên quan cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 15/12/2023, tại quán bán nước giải khát của anh X1, thuộc khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Trần Ngọc N đã sử dụng điện thoại hiệu Samsung của mình để đăng nhập vào trang wed scv.388.com để xem trực tuyến các trận đá gà đang diễn ra tại trường G (Campuchia) và cá cược thắng thua bằng tiền với 02 người chưa rõ nhân thân, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.300.000 đồng.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Trần Ngọc N là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Ngọc N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo có cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn là lao động chính đang nuôi mẹ già bị bệnh và hai con nhỏ đây là tình tiết mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đồng thời việc bị cáo cá độ đá gà qua mạng không làm ảnh hưởng lớn đến trật tự, trị an ở địa phương.
Mặc dù bị cáo đã có tiền sự, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này là chưa đủ định lượng và lấy tiền sự làm định khung hình phạt truy tố bị cáo, nên xem như bị cáo chưa có tiền sự.
Bị cáo có đủ điều kiện thỏa mãn theo Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018 về hưởng án treo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng dụng điều 65 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với số tiền 12.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002559 ngày 30/8/2024, trong đó gồm tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng, tiền nộp sung quỷ nhà nước 1.800.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy cần tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng bị cáo đã nộp để đảm bảo thi hành án. Riêng số tiền 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung thì trả lại cho bị cáo.
Việc sửa án sơ thẩm là do phát sinh thêm tình tiết mới tại cấp phúc thẩm không phải lỗi của cấp sơ thẩm.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là chưa phù hợp theo nhận định tại mục [3] nên không chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Trần Ngọc N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Ngọc N. Sửa một phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Ngọc N.
2. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc N: 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (09-9-2024).
Giao bị cáo Trần Ngọc N cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn M trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Ngọc N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Ngọc N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo Trần Ngọc N thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trả lại bị cáo số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002559 ngày 30/8/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Buộc bị cáo N nộp số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 1.800.000 đồng (Một triệu, tám trăm nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tiếp tục quản lý số tiền 2.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002559 ngày 30/8/2024 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Ngọc N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 233/2024/HS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 233/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
