|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 233/2024/DS-PT Ngày: 28/11/2024 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Triệu Thị Luyện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 170//TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 123/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1948. Có mặt.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị An B, Luật sư Văn phòng L2, đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang. Có mặt
* Bị đơn: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1960. Có mặt;
Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Thị P1, sinh năm 1964. Có mặt.
- Anh Ngô Quang K, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Anh Ngô Quang Đ, sinh năm 1972. Vắng mặt.
- Chị Ngô Thị T1, sinh năm 1975 .Vắng mặt;
- Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943. Có mặt;
- Anh Ngô Văn H, sinh năm 1983. Vắng mặt;
- Chị Dương Thị N, sinh năm 1985. Vắng mặt;
- UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do ông Đào Văn D, Chủ tịch UBND xã T là người đại diện theo pháp luật; Vắng mặt.
- UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do ông Ngô Ngọc Đ1, Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện L là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định số 16287/QĐ-UBND ngày 13/12/2021); Vắng mặt.
Cùng cư trú tại: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Cùng cư trú tại: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Ông Ngô Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Ngô Văn T trình bày:
Ông có vợ cả là Ngô Thị T3, sinh năm 1950 (ly hôn năm 1972) hiện bà T3 đang ở Thôn L, xã T, huyện L. Ông và bà T3 có 01 con chung là Ngô Thị T4, sinh năm 1972. Vợ hai là bà Đặng Thị H1, sinh 1954 (ly hôn năm 1993) hiện bà H1 đang ở thôn L, xã T, huyện L. Ông và bà Hậu S được 03 người con là Ngô Văn H2, sinh năm 1976, Ngô Thị N1, sinh năm 1978 và Ngô Văn Y, sinh năm 1982. Vợ ba là Ngô Thị T5, sinh năm 1962 (ly hôn năm 2013, bà T5 chết năm 2018). Ông và bà T5 có một con chung là Ngô Văn T6, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Bố ông là Ngô Văn N2, sinh năm 1916 (chết ngày 28/8/1963), mẹ ông là Nguyễn Thị T7, sinh năm 1916 (chết tháng 7/1996). Bố mẹ ông sinh được 05 người con gồm: Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007); bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; ông Ngô Văn L, sinh năm 1954 (chết ngày 01/3/2020) là người bị tàn tật, không có vợ con; ông Ngô Văn P, sinh năm 1960. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
Ông D1 có vợ là bà Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/12/1991). Vợ chồng ông D1, bà C sinh được 05 người con gồm: Chị Ngô Thị P1, sinh năm 1964; chị Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Anh Ngô Quang K, sinh năm 1969; anh Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; chị Ngô Thị T1, sinh năm 1976.
Bố mẹ ông quê chính ở thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Bố mẹ ông di cư lên ở thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang từ năm 1954, đến năm 1963 bố ông chết. Khi các con xây dựng gia đình thì bố mẹ ông đều cắt cho các con một phần đất để ở cạnh nhau. Ông D1 được 933m², bà T2 được 240m² cộng đất của nhà chồng thành 562m², ông được chia 206m² (đất này khi chia khoảng năm 1982-1986 ông cho bà H1 đứng tên sổ bìa đỏ, đất có tranh chấp đã được giải quyết tại Bản án số 09/2017/DS-ST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang). Ông L được mẹ ông cho đất ở huyện T, tỉnh Bắc Ninh; ông P được chia 520m²; còn lại của mẹ ông là 582m².
Khi mẹ ông chết không để lại di chúc, khoảng năm 2013 gia đình ông P xây nhà trên đất của mẹ ông để ở, ông có khuyên ngăn không được xây vì đó là đất của mẹ ông, nhưng ông P không nghe vẫn xây. Nay ông yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của mẹ ông để lại theo pháp luật (còn ngôi nhà của mẹ trên đất đã cũ không còn giá trị sử dụng ông không yêu cầu chia). Ông xin được hưởng phần di sản bằng đất, nếu phải phá dỡ nhà ông P xây trên đất của mẹ ông thì ông P phải tự chịu trách nhiệm vì ông P cố tình xây nhà trên đất của mẹ ông trái pháp luật.
Thửa đất là di sản thừa kế của mẹ ông để lại là thửa số 549, tờ bản đồ số 5, diện tích 582m², trong đó có 360m² đất ở và 222m² đất vườn, được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G561535 ngày 30/12/1993 địa chỉ thửa đất thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang mang tên người sử dụng bà Nguyễn Thị T7. Ông đề nghị đo vẽ thực tế hiện trạng bao gồm cả phần đất của mẹ ông đã bị ông P làm nhà lên, diện tích còn lại bao nhiêu thì chia bằng đó.
* Bị đơn ông Ngô Văn P trình bày: Ông có bố là Ngô Văn N2, sinh năm 1916 (chết ngày 28/8/1963), mẹ là Nguyễn Thị T7, sinh năm 1916 (chết tháng 7/1996). Bố mẹ ông sinh được 05 người con gồm: Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007); bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; ông Ngô Văn L, sinh năm 1954 (chết ngày 01/3/2020) và ông Ngô Văn P, sinh năm 1960. Ngoài ra bố mẹ ông không có người con nuôi nào.
Ông có vợ Ngô Thị H3, sinh năm 1963 (chết ngày 24/7/2019). Vợ chồng ông sinh được ba người con gồm: Ngô Văn H, sinh năm 1983, Ngô Thị H4, sinh năm 1987 và Ngô Văn V, sinh năm 1989.
Sau khi bốn anh chị em ruột của ông (ông D1, bà T2, ông T, ông P) xây dựng gia đình xong thì mẹ ông cụ T7 đều cho bốn anh, chị, em mỗi người một phần đất của mẹ để ở, phần còn lại mang tên cụ T7 ở cùng với ông L, vì ông L tàn tật không có vợ con.
Khi mẹ ông còn sống, cụ T7 nói ai nuôi ông L thì được hưởng đất của cụ T7. Ông là người trực tiếp nuôi dưỡng ông L. Năm 2013 ông có xây dựng ngôi nhà trên đất của cụ T7 để ông L ở, đến năm 2020 thì ông L chết, ông là người quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất của cụ T7 để lại, các con của ông không có công sức đóng góp gì. Trên thửa đất của cụ T7 hiện vẫn còn ngôi nhà hai gian của cụ T7 xây dựng khoảng từ năm 1971, ông đã tu sửa lại năm 1983.
Nay ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là thửa đất của mẹ ông (cụ T7) để lại ông không đồng ý, vì ông là người trực tiếp nuôi dưỡng ông L, nên ông được hưởng. Nếu phải phân chia di sản thừa kế thì phân chia đất của mẹ đều cho năm người con. Ví dụ ông T đã được chia 202m², thì đất của cụ T7 cũng phải chia cho ông L 202m², sau đó phần đất thừa còn lại mới chia thừa kế.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Thị P1, trình bày: Chị có bố là Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007), mẹ là Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/10/1991). Bố mẹ chị sinh được năm người con gồm: Chị là Ngô Thị P1; Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Ngô Quang K, sinh năm 1969; Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
- Anh Ngô Quang K, trình bày: Anh có bố là Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007), mẹ là Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/10/1991). Bố mẹ anh sinh được năm người con gồm: Ngô Thị P1, sinh năm 1964; Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Ngô Quang K, sinh năm 1969; Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
- Anh Ngô Quang Đ, trình bày: Anh có bố là Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007), mẹ là Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/10/1991). Bố mẹ anh sinh được năm người con gồm: Ngô Thị P1, sinh năm 1964; Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Ngô Quang K, sinh năm 1969; Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
- Chị Ngô Thị T1, trình bày: Chị có bố là Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007), mẹ là Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/10/1991). Bố mẹ chị sinh được năm người con gồm: Ngô Thị P1, sinh năm 1964; Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Ngô Quang K, sinh năm 1969; Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
- Bà Ngô Thị T2, trình bày: Bà có bố là Ngô Văn N2, sinh năm 1916 (chết ngày 28/8/1963), mẹ là Nguyễn Thị T7, sinh năm 1916 (chết tháng 7/1996). Bố mẹ bà sinh được 05 người con gồm: Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007); bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; ông Ngô Văn L, sinh năm 1954 (chết ngày 01/3/2020) không có vợ con và ông Ngô Văn P, sinh năm 1960. Ngoài ra bố mẹ bà không có người con nuôi nào.
- Anh Ngô Văn H, trình bày: Anh là con bố Ngô Văn P, sinh năm 1960, mẹ Ngô Thị H3, sinh năm 1963 (mất ngày 24/7/2019). Bố mẹ anh sinh được 03 người con gồm: Ngô Văn H, sinh năm 1983; Ngô Thị H4, sinh năm 1987 và Ngô Văn V1, sinh năm 1989.
- Chị Dương Thị N, mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý, giao các thủ tục tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị N vẫn không phối hợp để làm việc.
- UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do ông Đào Văn D, Chủ tịch UBND xã T đại diện thep pháp luật trình bày:
- UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do ông Ngô Ngọc Đ1, Phó trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện L đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, chị đề nghị Toà án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật, phần của chị được hưởng thừa kế của ông D1, chị để lại toàn bộ cho ông P quản lý và sử dụng.
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, anh đề nghị Toà án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật, phần của anh được hưởng thừa kế của ông D1, anh để lại toàn bộ cho ông P quản lý và sử dụng.
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, anh đề nghị Toà án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật, phần của anh được hưởng thừa kế của ông D1, anh để lại toàn bộ cho ông P quản lý và sử dụng.
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, chị đề nghị Toà án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật, phần của chị được hưởng thừa kế của ông D1, chị để lại toàn bộ cho ông P quản lý và sử dụng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị P1, Ngô Quang K, Ngô Quang Đ, Ngô Thị T1 đều có cùng quan điểm trình bày như sau:
Các ông, bà có bố là Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007), mẹ là Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/10/1991). Bố mẹ chị sinh được năm người con gồm: Ngô Thị P1, sinh năm 1964; Ngô Thị L1, sinh năm 1966 (chết ngày 22/12/2020), không có chồng con. Ngô Quang K, sinh năm 1969; Ngô Quang Đ, sinh năm 1972; Ngô Thị T1, sinh năm 1976. Ngoài ra không có người con nuôi nào.
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, chị đề nghị Toà án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật, phần của ông bà được hưởng thừa kế của ông D1, ông bà để lại toàn bộ cho ông P quản lý và sử dụng.
Khi 4 anh em (Dĩnh, Từ, T, P) xây dựng gia đình thì mẹ bà là cụ T7 đều cho 04 anh, em mỗi người được một phần thửa đất của cụ T7 để làm nơi ở hiện nay vẫn còn đó. Riêng nhà ông T được nhà nước cho 2 lần đất. Lần 1 được 1 sào ở Đồi S thôn L, lần 2 được nhà nước chia cho khoảng 70m² cho con ông T, thửa đất này ông T đã bán, hiện ông T đang sử dụng thửa đất ở Đồi S thôn L.
Thửa đất còn lại sổ bìa đỏ mang tên cụ T7, do cụ T7 và ông L ở ngay sát cạnh nhà ông P. Ông P là người chăm sóc nuôi dưỡng cụ T7 và ông L tàn tật, khi ông L chết, ông P lo toàn bộ cùng các cháu, ông T không về. Theo bà thửa đất của cụ T7 đã cho ông P sử dụng để cúng ông L. Nếu phải chia di sản thừa kế thửa đất của cụ T7, phần di sản bà được hưởng bà để lại toàn bộ cho ông P để ông P lo cúng ông L.
Năm 2008 anh kết hôn với chị Dương Thị N. Năm 2014 bố mẹ anh có xây dựng ngôi nhà 02 tầng trên đất sổ bìa đỏ mang tên cụ T7 để cho vợ chồng anh và ông L ở, năm 2020 ông L chết vợ chồng anh vẫn đang ở ngôi nhà này.
Việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, vợ chồng anh đề nghị Tòa án điều tra xác minh thật kỹ và giải quyết theo pháp luật. Mọi vấn đề về việc ông T khởi kiện phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của cụ T7 để lại, vợ chồng anh để cho bố anh là ông Ngô Văn P có trách nhiệm giải quyết.
Nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 2, diện tích 582m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị T7:
Vợ chồng cụ Ngô Văn N2, sinh năm 1916 (chết ngày 28/8/1963), vợ là cụ Nguyễn Thị T7, sinh năm 1916 (chết tháng 7/1996), sinh được 05 người con gồm: Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007); bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; ông Ngô Văn L, sinh năm 1954 (chết ngày 01/3/2020); ông Ngô Văn P, sinh năm 1960.
Theo hồ sơ địa chính xã T lập năm 1993 cho thấy: Tại tờ bản đồ địa chính số 05, có thể hiện các thửa đất số 548, diện tích 206m²; thửa đất số 549, diện tích 582m² và thửa đất số 1361, diện tích 520m². Tại sổ địa chính lập năm 1993 có theo dõi chủ sử dụng đất như sau: Bà Đan Thị H5 hay bà Đặng Thị H1 (vợ ông Ngô Văn T) thửa đất số 548, diện tích 206m²; bà Nguyễn Thị T7 thửa đất số 549, diện tích 582m² và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m².
Năm 1993, UBND xã T tổ chức hướng dẫn các chủ sử dụng đất kê khai, đăng ký cấp GCNQSD đất ở, đất vườn và đất ruộng. Khi đó bà Nguyễn Thị T7 có đi kê khai đăng ký cấp GCN đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 5, diện tích 582m² và các thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình đang quản lý và sử dụng. Ngày 30/12/1993, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất theo đúng các thửa đất bà T7 đã kê khai, với tổng diện tích 1.502m² (trong đó có thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m², mục đích sử dụng: 360m² đất ở và 222m² đất vườn). Việc cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị T7 là đảm bảo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Năm 2003, UBND xã T tổ chức đo đạc bản đồ địa chính chính quy, do các thửa đất số 548, diện tích 206m²; thửa đất số 549, diện tích 582m² và thửa đất số 1361, diện tích 520m² không có ranh giới cố định ngoài thực địa, nên khi đo đạc đã được đo bao thành 01 thửa đất, là thửa đất số 26, tờ bản đồ số 2, tổng diện tích 1.247,6m², tên chủ sử dụng đất là ông Ngô Văn L.
Quá trình sử dụng đất, năm 2017, bà Đặng Thị H1 có đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện về việc giải quyết tranh chấp đất đai với ông Ngô Văn L. Tại Bản án số 09/2017/DSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện xử: Buộc ông Ngô Văn L phải trả bà Đặng Thị H1, ông Ngô Văn T diện tích 202,3m² tại thửa đất số 548, tờ bản đồ số 5, thôn L, xã T (Diện tích đất trên nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 2, tổng diện tích 1.247,6m² theo bản đồ đo đạc năm 2003). Hai thửa đất còn lại của bà Nguyễn Thị T7, thửa đất số 549, diện tích 582m² và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² hiện nay chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 05/4/2024, Toà án nhân dân huyện đã phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn của huyện, UBND xã T và Trưởng thôn Liên S1 và hộ gia đình cá nhân tiến hành kiểm tra, thẩm định và định giá, đo đạc lại hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp nêu trên. Kết quả đo đạc hiện trạng cho thấy:
Thửa đất bà Đặng Thị H1 đang quản lý và sử dụng được thể hiện là thửa đất số 2, diện tích 201,3m² (ranh giới xác định tại thực địa là tường bao và cọc mốc giới kiên cố, rõ ràng).
Đối với 02 thửa đất được cấp cho bà Nguyễn Thị T7 (thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m²) và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² được đo bao thể hiện là thửa đất số 1, diện tích 1.043m².
Đối với kết quả chồng ghép giữa kết quả đo đạc hiện trạng với bản đồ đo đạc năm 1993, 2003 về ranh giới, mốc giới có sự dịch chuyển, không khớp nhau. Tuy nhiên số liệu chênh lệch thấp. Nguyên nhân là do sai số đo đạc.
Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất cho thấy: Đối với các hộ giáp ranh, liền kề thì đã có ranh giới mốc giới cố định, cụ thể rõ ràng, không có tranh chấp. Về ranh giới giữa 02 thửa đất được cấp cho bà Nguyễn Thị T7 (thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m²) và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² tại thực địa không thể hiện rõ ràng (phần công trình phụ trợ như: Nhà bếp, nhà tắm, khu vực chăn nuôi hiện nay hộ ông P đang quản lý và sử dụng nằm trong GCNQSD đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị T7).
Quan điểm của UBND xã T: Ngày 30/12/1993, UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị T7 đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m² (trong đó có: 360m² đất ở và 222m² đất vườn) theo đúng quy định pháp luật. Từ khi được cấp GCNQSD đất cho đến nay hộ gia đình sử dụng thửa đất ổn định liên tục, không tranh chấp. Hiện nay bà T7 đã chết; trước khi chết không để lại di chúc. Ông Ngô Văn T (là con đẻ của cụ T7) khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang chia di sản thừa kế theo pháp luật. Căn cứ hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, các giấy tờ chứng minh việc sử dụng đất nêu trên. UBND xã T đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết theo quy định.
Về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 2, diện tích 582m² mang tên hộ bà Nguyễn Thị T7: Cụ Nguyễn Thị T7 là mẹ đẻ của các ông, bà: Ngô Văn D1, Ngô Thị T2, Ngô Văn T, Ngô Văn L và Ngô Văn P. Theo hồ sơ địa chính xã T lập năm 1993 cho thấy: Tại tờ bản đồ địa chính số 05, có thể hiện các thửa đất: số 548, diện tích 206m²; thửa đất số 549, diện tích 582m² và thửa đất số 1361, diện tích 520m². Tại sổ địa chính lập năm 1993 có theo dõi chủ sử dụng đất như sau: Bà Đan Thị H5 hay bà Đặng Thị H1 (vợ ông Ngô Văn T) thửa đất số 548, diện tích 206m²; Cụ Nguyễn Thị T7 thửa đất số 549, diện tích 582m² và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m².
Năm 1993, UBND xã T tổ chức hướng dẫn các chủ sử dụng đất kê khai, đăng ký cấp GCNQSD đất ở, đất vườn và đất ruộng. Khi đó cụ Nguyễn Thị T7 có đi kê khai đăng ký cấp GCN đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 5, diện tích 582m² và các thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình đang quản lý và sử dụng. Ngày 30/12/1993, UBND huyện L đã cấp GCNQSD đất theo đúng các thửa đất cụ T7 đã kê khai, với tổng diện tích 1.502m² (trong đó có thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m², mục đích sử dụng: 360m² đất ở và 222m² đất vườn). Việc cấp GCNQSD đất cho cụ Nguyễn Thị T7 là đảm bảo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Năm 2003, UBND xã T tổ chức đo đạc bản đồ địa chính chính quy, do các thửa đất số 548, diện tích 206m²; thửa đất số 549, diện tích 582m² và thửa đất số 1361, diện tích 520m² không có ranh giới cố định ngoài thực địa, nên khi đo đạc đã được đo bao thành 01 thửa đất là thửa đất số 26, tờ bản đồ số 2, tổng diện tích 1.247,6m², tên chủ sử dụng đất là ông Ngô Văn L.
Quá trình sử dụng đất, năm 2017, bà Đặng Thị H1 có đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện về việc giải quyết tranh chấp đất đai với ông Ngô Văn L. Tại Bản án số 09/2017/DSST ngày 05/9/2017 của Toà án nhân dân huyện xử: Buộc ông Ngô Văn L phải trả bà Đặng Thị H1, ông Ngô Văn T diện tích 202,3m² tại thửa đất số 548, tờ bản đồ số 5, thôn L, xã T (Diện tích đất trên nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 2, tổng diện tích 1.247,6m² theo bản đồ đo đạc năm 2003). Hai thửa đất còn lại của cụ Nguyễn Thị T7, thửa đất số 549, diện tích 582m² và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² hiện nay chưa được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 05/4/2024, Toà án nhân dân huyện đã phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn của huyện, UBND xã T và Trưởng thôn Liên S1 và hộ gia đình cá nhân tiến hành kiểm tra, thẩm định và định giá, đo đạc lại hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp nêu trên. Kết quả đo đạc hiện trạng cho thấy:
Thửa đất bà Đặng Thị H1 đang quản lý và sử dụng được thể hiện là thửa đất số 2, diện tích 201,3m² (ranh giới xác định tại thực địa là tường bao và cọc mốc giới kiên cố, rõ ràng).
Đối với 02 thửa đất được cấp cho cụ Nguyễn Thị T7 (thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m²) và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² được đo bao thể hiện là thửa đất số 1, diện tích 1.043,6m².
Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất cho thấy: đối với các hộ giáp ranh, liền kề thì đã có ranh giới mốc giới cố định, cụ thể rõ ràng, không có tranh chấp. Về ranh giới giữa 02 thửa đất được cấp cho cụ Nguyễn Thị T7 (thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m²) và bà Ngô Thị H3 (vợ ông Ngô Văn P) thửa đất số 1361, diện tích 520m² tại thực địa không thể hiện rõ ràng (phần công trình phụ trợ như: Nhà bếp, nhà tắm, khu vực chăn nuôi hiện nay hộ ông P đang quản lý và sử dụng nằm trong GCNQSD đất đã cấp cho cụ Nguyễn Thị T7).
Quan điểm của UBND huyện L: Ngày 30/12/1993, UBND huyện L cấp GCNQSD đất cho cụ Nguyễn Thị T7 đối với thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích 582m² (trong đó có: 360m² đất ở và 222m² đất vườn) theo đúng quy định pháp luật. Từ khi được cấp GCNQSD đất cho đến nay hộ gia đình sử dụng thửa đất ổn định liên tục, không tranh chấp. Hiện nay cụ T7 đã chết; trước khi chết không để lại di chúc, ông Ngô Văn P đang quản lý thửa đất. Ông Ngô Văn T (là con đẻ của cụ T7) khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang chia tài sản thừa kế theo pháp luật. Căn cứ hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, các giấy tờ chứng minh việc sử dụng đất nêu trên. UBND huyện đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết theo quy định.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 227, 228, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 357, 610, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 688 Bộ luật Dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn T. Xác định thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích đo đạc thực tế là 497,6m², trong đó có 360m² đất ở và 137,6m² đất vườn theo hình ABCDEFGH, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 561535, ngày 30/12/1993, mang tên người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T7 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T7 để lại, tổng trị giá 2.256.320.000đ (hai tỷ hai trăm năm sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ngô Văn T và ông Ngô Văn P.
Chia cho ông Ngô Văn P được hưởng di sản thừa kế của cụ T7 để lại là thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích đo đạc thực tế là 497,6m², trong đó có 360m² đất ở và 137,6m² đất vườn theo hình ABCDEFGH, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 561535, ngày 30/12/1993, mang tên người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T7, cùng tài khác sản gắn liền với đất, tổng trị giá 2.256.320.000₫ (hai tỷ hai trăm năm sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Ông phượng phải có trách nhiệm trích chia trả phần di sản thừa kế của cụ T7 cho ông T trị giá bằng tiền là 451.264.000₫ (Bốn trăm năm mốt triệu hai trăm sáu tư nghìn đồng). Ông P có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được hưởng thừa kế nêu trên theo pháp luật. (có sơ đồ kèm theo)
Ông Ngô Văn P phải hoàn trả ông Ngô Văn T 14.400.000đ tiền chi phí định giá tài sản và chi phí đo vẽ sơ đồ bằng máy kỹ thuật số.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 03/8/2024, nguyên đơn Ngô Văn T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia di sản thừa kế của mẹ ông là cụ T7 làm ba suất gồm có ông, bà T2, ông D1 (Do ông D1 chết, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông D1 được hưởng suất thừa kế của ông D1 là chị P1, anh K, anh Đ, chị T1), Ông không đồng ý chia kỷ phần thừa kế của mẹ ông để lại cho ông Ngô Văn P; Giải quyết chia cho ông kỷ phần di sản thừa kế của mẹ ông để lại mà ông được hưởng trị giá bằng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Ngô Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, chia thừa kế cho ông được hưởng thừa kế bằng hiện vật để ông có chỗ ở.
- Bị đơn ông Ngô Văn P trình bày: Ông đồng ý với yêu cầu của ông T, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm chia thừa kế cho ông T theo diện tích đất ông T được hưởng bằng đất. Ông đồng ý và tự nguyện tháo dỡ nhà tắm cũng như công trình chuồng trại chăn nuôi để trả đất cho ông T mà không yêu cầu ông T phải bồi thường giá trị phần tháo dỡ.
- Bà Ngô Thị T2 trình bày: Bà đồng ý nhận thừa kế của cụ T7 và ông L. Đối với toàn bộ diện tích đất bà được hưởng thừa kế, bà tự nguyện giao lại cho ông P quản lý sử dụng.
- Chị Ngô Thị Phương trình B1: Chị đồng ý nhận thừa kế của ông D1 và chị L1. Đối với toàn bộ diện tích đất chị được hưởng thừa kế, chị tự nguyện giao lại cho ông P quản lý sử dụng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Văn T, bà Võ Thị An B trình bày:
Nhất trí với phần trình bày của ông T tại phiên tòa và đề nghị tòa án cấp phúc thẩm chia thừa kế cho ông T bằng đất.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Ngô Văn T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;
Áp dụng: Các Điều 26, 35, 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 610, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 688 Bộ luật Dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai hoặc đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn Ngô Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về di sản thừa kế:
Các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 549, tờ bản đồ 05 diện tích 582m² ông T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là tài sản do cụ N2 và cụ T7 gây dựng lên. Năm 1963 cụ N2 chết không để lại di chúc, thửa đất trên do cụ T7 quản lý, sử dụng. Thời điểm cụ N2 chết Nhà nước chưa có chính sách về quản lý đất đai, giao quyền sử dụng đất cho cá nhân, hộ gia đình sử dụng. Đến năm 1993 cụ T7 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 549, tờ bản đồ số 05 diện tích 582m². Cụ T7 và ông Ngô Văn L sinh sống trên diện tích đất này đến năm 1996 cụ T7 chết, ông L vẫn sinh sống trên thửa đất này. Năm 2013 gia đình ông P đến xây dựng nhà ở cấp 3 hai tầng, làm sân, cổng, bắn mái tôn, bếp và trồng cây cối trên đất để ở và chăm sóc cho ông L.
Như vậy, các đương sự đều thừa nhận di sản thừa kế do cụ T7 để lại là thửa số 549, tờ bản đồ số 5, diện tích 582m² được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G561535 ngày 30/12/1993, đứng tên Nguyễn Thị T7, các đương sự cũng thừa nhận theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất có diện tích 497,6m² trong đó có 360m² đất ở và 137,6m² đất vườn, thửa đất có giá trị được định giá là 2.256.320.000 đồng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng đân sự, đây là các tình tiết không cần phải chứng minh nên được Tòa án thừa nhận và làm căn cứ giải quyết vụ án.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất thuộc thửa đất 549, tờ bản đồ 05 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G561535 ngày 30/12/1993 mang tên chủ sử dụng cụ Nguyễn Thị T7, diện tích đo đạc thực tế là 497,6m² trong đó có 360m² đất ở và 137,6m² đất vườn là di sản thừa kế của cụ T7 để lại là phù hợp với quy định tại Điều 612 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.2] Về hàng thừa kế:
Cụ Ngô Văn N2, sinh năm 1916 (chết ngày 28/8/1963) và cụ Nguyễn Thị T7, sinh năm 1916 (chết tháng 7/1996) có 05 người con chung gồm: Ông Ngô Văn D1, sinh năm 1941 (chết ngày 08/02/2007); bà Ngô Thị T2, sinh năm 1943; ông Ngô Văn T, sinh năm 1948; ông Ngô Văn L, sinh năm 1954 (chết ngày 01/3/2020); ông Ngô Văn P, sinh năm 1960. Ngoài ra hai cụ không có con riêng hay người con nuôi nào khác.
Năm 1996, cụ Nguyễn Thị T7 chết không để lại di chúc. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T7, gồm: Ông Ngô Văn D1, bà Ngô Thị T2, ông Ngô Văn T, ông Ngô Văn L, ông Ngô Văn P (là các con của cụ T7 và cụ N2). Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015. Ông Ngô Văn D1 (chết năm 2007), ông Ngô Văn L (chết năm 2020), ông D1 và ông L không thuộc trường hợp từ chối nhận di sản, không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 620, Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, phần di sản thừa kế mà ông D1, ông L được hưởng được chia cho những người thuộc hàng thừa kế của ông D1 và ông L theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Ngô Văn L là người khuyết tật nặng, không có vợ con (ông L chết ngày 01/3/2020) nên ông L không được hưởng di sản thừa kế của cụ T7 để lại là không phù hợp với quy định tại Điều 651 của Bộ luật dân sự 2015.
Đối với ông Ngô Văn D1 chết năm 2007 không để lại di chúc; ông D1 có vợ là bà Ngô Thị C, sinh năm 1940 (chết ngày 04/12/1991) và có các con là: Chị Ngô Thị P1; chị Ngô Thị L1 (chết ngày 22/12/2020, không có chồng con), anh Ngô Quang K, anh Ngô Quang Đ và chị Ngô Thị T1. Do đó, chị P1, anh K, anh Đ, chị L1 và chị T1 là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông D1 và hưởng phần di sản của ông D1 được chia từ di sản của cụ T7.
Đối với chị Ngô Thị L1 chết ngày 22/12/2020, bố, mẹ chị L1 là ông D1, bà C đều đã chết trước chị L1, chị L1 không có chồng, con nên những người thuộc hàng thừa kế của chị L1 là chị P1, anh K, anh Đ, chị T1 (là các anh, chị, em của chị L1 theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015).
Đối với ông Ngô Văn L chết năm 2020 không để lại di chúc, ông L không có vợ, con. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, những người thừa kế của ông L gồm: bà Ngô Thị T2, ông Ngô Văn T và ông Ngô Văn P (là các anh, chị, em ruột của ông L).
[2.3] Về chia di sản thừa kế:
Xét thấy, sau khi cụ T7 chết vào năm 1996, gia đình bị đơn ông Ngô Văn P trực tiếp quản lý, sử dụng đất và xây dựng nhà ở trên đất. Sự việc này diễn ra liên tục, trong thời gian dài, các đương sự khác sinh sống gần đó nhưng không có tranh chấp; mặt khác, những người thừa kế khác của cụ T7 (trừ ông Ngô Văn T) đều thừa nhận ông P có công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cụ T7 lúc già yếu và nuôi dưỡng ông L bị tàn tật cho đến khi qua đời. Do vậy, cấp sơ thẩm đã trích một phần công sức bảo quản, gìn giữ, tôn tạo di sản cho bị đơn ông Ngô Văn P tương đương với 01 kỷ phần thừa kế là phù hợp Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015. Chia di sản của cụ T7 thành 06 kỷ phần bằng nhau, ông P được hưởng 02 kỷ phần còn những người thừa kế khác (ông D1, bà T2, ông T, ông L) mỗi người được hưởng 01 kỷ phần là 60 m² đất ở và 32,9m² đất vườn.
Đối với kỷ phần thừa kế bà Ngô Thị T2 được hưởng, bà T2 tự nguyện đề nghị giao lại cho ông P quản lý, sử dụng nên ông P được hưởng 01 kỷ phần của bà T2 cho ông.
Đối với kỷ phần của ông Ngô Văn L: Do ông L chết không để lại di chúc, không có vợ con nên chia di sản của ông L được cho bà T2, ông T, ông P (thuộc hàng thừa kế thứ hai) mỗi người 01 kỷ phần là 20m² đất ở và 10,9m² đất vườn. Do bà T2 đề nghị giao kỷ phần bà T2 được hưởng cho ông P nên ông P được hưởng 02 kỷ phần thừa kế của ông L, ông T8 được hưởng 01 kỷ phần thừa kế của ông L.
Đối với kỷ phần thừa kế của ông Ngô Văn D1 chết năm 2007 không để lại di chúc, những người thừa kế thế vị của ông Ngô Văn D1 là chị Ngô Thị L1, chị Ngô Thị P1, anh Ngô Quang K, anh Ngô Quang Đ và chị Ngô Thị T1 mỗi người được hưởng 12m2 đất ở và 6,58m2 đất vườn. Chị Ngô Thị L1 chết năm 2020 không có chồng con nên kỷ phần của chị L1 được chia cho chị P1, anh K, anh Đ và chị T1 mỗi người dược hưởng 3m2 đất ở và 1,64m2 đất vườn. Do vậy chị P1, anh K, anh Đ và chị T1 được hưởng thừa kế từ ông D1 và chị L1 mỗi người được hưởng 15m2 đất ở và 8,2 m2 đất vườn tương đương với 95.740.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án chị P1, anh K, anh Đ và chị T1 đều thống nhất giao lại phần di sản được chia cho ông Ngô Văn P quản lý, sử dụng nên ông P được hưởng 01 kỷ phần thừa kế của ông D1.
Như vậy, ông P được hưởng công sức bảo quản, gìn giữ, tôn tạo di sản tương đương 01 kỷ phần thừa kế, 03 kỷ phần thừa kế di sản của cụ T7 và 02 kỷ phần thừa kế di sản của ông L là tương ứng với 280m² đất ở và 107,1m² đất vườn có tổng giá trị là 1.754.970.000 đồng.
Ông T được hưởng 01 kỷ phần thừa kế của cụ T7 và 01 kỷ phần thừa kế của ông L tương ứng với 80m² đất ở và 30,5m² đất vườn trị giá 501.350.000 đồng.
[2.4] Đối với kháng cáo của ông T kháng cáo đề nghị được hưởng di sản thừa kế bằng hiện vật. Hội đồng xét xử thấy: Di sản thừa kế cụ T7 để lại có diện tích 497,6m² và có thể chia thừa kế bằng đất cho ông P và ông T8 được. Hiện nay, phần đất là di sản thừa kế của cụ T7 để lại do ông P quản lý, sử dụng, ông P đã xây dựng nhà ở và các công trình phụ, trồng cây trên đất và thờ cúng cụ T7 và ông L trên phần diện tích đất này. Các đương sự cùng đồng ý thống nhất chia di sản thừa kế bằng đất và ông P tự nguyện tháo dỡ công trình xây dựng trên đất ông T được giao mà không yêu cầu ông T phải trích trả giá trị tài sản trên đất cho ông P. Do vậy, kháng cáo của ông T về việc yêu cầu chia di sản thừa kế đối với kỷ phần ông T8 được hưởng bằng hiện vật là có cơ sở để chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, kháng cáo của ông Ngô Văn T là có cơ sở để chấp nhận. Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm như đã phân tích ở trên là phù hợp với quy định tại Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[3] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản:
Tổng chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 18.000.000₫ (ông T đã nộp tạm ứng). Các bên phải chịu chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ tương đương với kỷ phần được hưởng. Ông P được nhận 4 kỷ phần của cụ T7 và 2/3 kỷ phần của ông L nên ông P phải chịu 14.000.000đ tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Ông T phải chịu 4.000.000đ. Số tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ ông P phải nộp được trả cho ông T.
[4] Về án phí:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông P và ông T là người cao tuổi nên ông P, ông T được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Chị Ngô Thị P1, anh Ngô Quang K, anh Ngô Quang Đ và chị Ngô Thị T1 mỗi người phải chịu 4.787.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản thừa kế được hưởng từ ông Ngô Văn D1 và chị Ngô Thị L1.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Ngô Văn T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang;
Áp dụng: Các Điều 26, 35, 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, 610, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 688 Bộ luật Dân sự 2015. Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Văn T:
- - Xác định thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, diện tích đo đạc thực tế là 497,6m², trong đó có 360m² đất ở và 137,6m² đất vườn theo hình ABCDEFGH, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 561535, ngày 30/12/1993, mang tên người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T7 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị T7 để lại, tổng trị giá 2.256.320.000đ (hai tỷ hai trăm năm sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
- - Giao cho ông Ngô Văn P được quản lý, sử dụng 387,1m² đất theo hình DEGHMNBCD. Trong đó có 280m² đất ở và107,1m² đất vườn trị giá 1.754.970.000 đồng tại thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 561535, ngày 30/12/1993, mang tên người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T7.
- - Giao cho ông Ngô Văn T được quản lý, sử dụng 110,5m² đất theo hình ABCD. Trong đó có 80m² đất ở và 30,5m² đất vườn trị giá 501.350.000 đồng tại thửa đất số 549, tờ bản đồ số 05, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành C 561535, ngày 30/12/1993, mang tên người sử dụng đất là bà Nguyễn Thị T7.
Ông T, ông P có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được hưởng thừa kế nêu trên theo pháp luật.
- - Buộc ông Ngô Văn P, anh Ngô Văn H, chị Dương Thị N phải tháo dỡ 06m2 nhà tắm, 1,8m2 nhà bếp có kích thước cạnh là 0,6 x 3,0 m, 29m2 khu vực chăn nuôi và 17,5m2 sân gạch để trả lại đất cho ông Ngô Văn T. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
- Về chi phí tố tụng:
Ông Ngô Văn T phải chịu 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận ông T đã nộp đủ số tiền này.
Ông Ngô Văn P phải chịu 14.000.000 (Mười bốn triệu đồng) tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Số tiền ông Ngô Văn P phải nộp được trả cho ông Ngô Văn T.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Ngô Văn T và ông Ngô Văn P.
Chị Ngô Thị P1, anh Ngô Quang K, anh Ngô Quang Đ và chị Ngô Thị T1 mỗi người phải chịu 4.787.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Ngô Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 233/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 233/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia thừa kế tài sản
