|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 240/2023/HS-ST Ngày: 17/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
-
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Tô Văn Ngọc
2/ Bà Ngô Thị Yêm
-
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 17/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 245/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Thị V - sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú: Số A, ngách C phố V, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Tổ A thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn C và bà Trần Thị T; Chồng Trần Bảo T1 sinh năm 1976 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2003; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không
D chỉ bản số 0000000711 lập ngày 20/10/2022 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Thị H – Văn phòng L1 – Đoàn luật sư thành phố H.
Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Tuấn N, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên toà.
Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Hồi 17h30 ngày 13/10/2022 Tổ công tác Công an thị trấn Đ làm nhiệm vụ trên địa bàn tổ dân phố A phát hiện và bắt quả tang Bùi Thị V đang bán số lô số đề cho Nguyễn Tuấn N và Nguyễn Duy T2 tại quán bán hàng nước của V ở tổ A, thị trấn Đ.
Vật chứng tạm giữ: của Bùi Thị V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW màu vàng, có số thuê bao 0388600827; 01 (một) sổ ghi kết quả xổ số miền bắc và bảng ghi các chữ số lô, số đề; Tiền mặt 5.450.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Tạm giữ của Nguyễn Tuấn N: 01 (một) tờ tích kê trong ghi các số lô, số đề.
Quá trình điều tra làm rõ: Bùi Thị V, sinh năm 1982; ĐKHKTT tại: Số C V, phường V, quận H, Hà Nội, thuê nhà trọ tại Tổ A, Thị Trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội và bán quán nước tại cửa nhà trọ. Qua quan hệ xã hội, V quen biết Đào Minh T3, sinh năm 1977; Trú tại: Thôn Q, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Khoảng tháng 4/2022, T3 thường xuyên đến nhà trọ của V, T3 đặt vấn đề thuê V ghi bán số lô, số đề cụ thể: Khi V ngồi bán nước có khách mua số lô, số đề, V ghi số lô, số đề cho khách, T3 sẽ trả công cho V bằng cách trả tiền nhà thuê trọ cho V, V đồng ý. Hàng ngày sau khi ghi số lô, đề cho khách, V dùng zalo “Van Kieu” số thuê bao 0388.600.827 của V chuyển số lô, số đề tới zalo “A Tuong” của T3 hoặc V dùng số điện thoại của V nhắn tin chuyển số lô, số đề bán được trong ngày đến số thuê bao 0327783834 của Tưởng, ngoài ra, thỉnh thoảng Tưởng trực tiếp đến gặp V để nhận số lô, đề. Hôm sau, T3 chốt tiền thắng thua số lô, số đề bán được ngày hôm trước. Khi khách trúng thưởng, T3 sẽ đưa tiền cho V để V trả tiền cho con bạc.
Ngày 12/10/2022, Bùi Thị V bán số lô, số đề cho 01 khách vãng lai chưa rõ nhân thân lai lịch gồm các số lô 12, 10 mỗi số 50 điểm, số H với giá 10 điểm và các số đề 17, 71, 83 mỗi số 10.000 đồng; số 33, 88 mỗi số 25.000 đồng. Tổng số tiền là 2.610.000 đồng. Cùng ngày 12/10/2022, V đã chuyển số lô, số đề và tiền bán số lô, số đề trên cho T3.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 13/10/2022, Nguyễn Tuấn N, sinh năm 1974; Trú tại: Tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội đi cùng Ngô Văn N1, sinh năm 2001; Trú tại: thôn T, xã L, huyện Đ, Hà Nội đến quán nước của V uống nước. Nguyễn Tuấn N thấy V ghi số lô, số đề nên Tuấn N hỏi và mua của V các số lô 23, 09, 50 mỗi số lô 50 điểm (một điểm lô là 23.000 đồng) và các số đề: 26, 62, 14, 41, 47 mỗi số 200.000 đồng, tổng tiền là 4.450.000 đồng. V thu tiền bán số lô, số đề của Tuấn N và ghi các số lô, số đề Tuấn N mua vào sổ, giao tích kê lô, đề cho N, Tuấn N tiếp tục ngồi uống nước. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Duy T2, sinh năm 2003; Trú tại : Tổ B, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội đến quán nước của V ngồi cùng bàn với Nguyễn Tuấn N và Ngô Văn N1. T2 mua của V các số lô: 47, 74 mỗi số 20 điểm, các số đề: 48, 84 mỗi số 40.000 đồng với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. V nhận tiền, ghi các số lô, số đề T2 mua vào sổ rồi viết tích kê cho T2. Khi V đang ghi tích kê cho T2 thì bị Tổ công tác của Công an thị trấn Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang lập biên bản, tạm giữ vật chứng liên quan mời những người liên quan về trụ sở làm việc.
Ngày 11/11/2022, Cơ quan điều tra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C1 giám định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu vàng có gắn 01 thẻ SIM số thuê bao: 0388.600.827, trên thẻ SIM có dãy số: 89840 48000 33370 5480 giám định Zalo “A Tuong” là của số thuê bao nào; Khôi phục thông tin dữ liệu cuộc gọi, tin nhắn SMS giữa số thuê bao 0388.600.827 và số thuê bao 0327.783.834; Khôi phục thông tin điện thoại, tin nhắn giữa zalo “Van Kieu” đến zalo “A Tuong” trong điện thoại cần giám định.
Ngày 09/12/2022, V1 - Bộ C1 có Kết luận giám định số 7774, kết luận: Tại thời điểm giám định thì tài khoản Zalo “A T4” sử dụng số thuê bao: +84327783834 được lưu trong điện thoại mẫu cần giám định. Tìm thấy 415 cuộc gọi liên hệ với số điện thoại: 0327.783.xxx trong điện thoại mẫu cần giám định. Chi tiết có trong đĩa CD-R kèm theo. Tìm thấy nội dung các cuộc trò chuyện với tài khoản Zalo “A T4” trong điện thoại mẫu cần giám định. Chi tiết có trong đĩa CD-R kèm theo. Trong các cuộc nói chuyện zalo, zalo “Van Kieu” (của bị can V) có 02 tin nhắn gửi số lô, số đề đến zalo “A Tuong”: Hồi 17h27′ ngày 30/4/2022 “Dau dit 8 nhan 10 Lộ 31 33 19 91 nhan 5 nhe”, hồi 17h59' ngày 30/4/2022, zalo “A Tuong” trả lời “Oke”; Hồi 17h19' ngày 01/5/2022 “Dau dit 7 nhan 10 Lộ 77 14 59 92 nhan 5 nhe”; Hồi 16h50' ngày 03/5/2022 “Dau dit 4 nhan 5 Lộ 45 47 89 nhan 5 nhe".
Ngày 07/11/2022, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu Phòng K (PC09) - C2 giám định: 01 quyển sổ kích thước khoảng (15x25)cm bên trong có trang ghi số lô, số đề và 01 tích kê kích thước (10x15)cm bên trong có các số lô, số đề (tích kê lô, đề V đưa cho N1).
Ngày 12/12/2022,tại bản kết luận số 8244 của Phòng K - C2 kết luận:
-
*Chữ viết, chữ số gồm: - Chữ viết, chữ số trong phần khoanh mực màu đỏ tại các trang được đánh số bút lục 11, 36, 37, 52, 64, 69 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1).
-
- Chữ viết, chữ số tại trang được đánh số bút lục 79 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1)11, 36, 37, 52, 64, 69.
-
Là chữ do người có mẫu chữ viết, chữ số đứng tên Đào Minh T3 trên các tài liệu (ký hiệu từ M1 đến M5) viết ra.
-
*Chữ viết, chữ số gồm: - Chữ viết, chữ số ngoài phần khoanh mực màu đỏ tại các trang được đánh số bút lục 11, 36, 37, 52, 64, 69 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1);
-
- Chữ viết, chữ số tại trang được đánh số bút lục 81 (trừ các chữ “19032169316686 Đào Thanh Huyền” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1);
-
Chữ viết, chữ số tại các trang được đánh số bút lục 61, 72, 80, 82 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1);
-
Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2)
-
Là chữ do người có mẫu chữ viết, chữ số đứng tên Bùi Thị V trên các tài liệu (ký hiệu từ M6 đến M11) viết ra.
-
Chữ viết có nội dung “19032169316686 Đào Thanh H1” tại trang được đánh số bút lục 81 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1) không phải là chữ do 02 người có mẫu chữ viết, chữ số đứng tên Đào Minh T3, Bùi Thị V trên các tài liệu (ký hiệu M1 đến M11) viết ra.
Ngày 07/11/2022, Cơ quan điều tra có Công văn số 2268 gửi Ban thanh tra - Kiểm toán, Tập đoàn C3 đề nghị cung cấp: Thông tin về chủ đăng ký số thuê bao, danh sách các liên lạc, tin nhắn và vị trí của số thuê bao 0388600827 từ ngày 28/4/2022 đến hết ngày 13/10/2022. Thông tin về chủ đăng ký số thuê bao, danh sách các liên lạc, tin nhắn và vị trí của số thuê bao 0327783834 từ ngày 28/4/2022 đến hết ngày 13/10/2022.
Ngày 07/3/2023, Ban thanh tra - Kiểm toán, Tập đoàn C3 trả lời:
Số thuê bao 0388600827 đăng ký chính chủ là chị Nguyễn Thị Ngọc L, ngày sinh: 20/9/2004, địa chỉ: thôn P, xã U, huyện Đ, Hà Nội. Kèm theo danh sách 2575 cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn sms từ ngày 28/4/2022 đến hết ngày 13/10/2022.
Tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V ghi bán số lô, số đề ngày 30/4/2022 là:
-
- Đề hai số: Số đề hai số: (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 98) x 10.000 đồng = 190.000 đồng. Tổng tiền đề hai số: 190.000 đồng.
-
- Lô thường: Số lô (31, 33, 19, 91) x 05 điểm (một điểm lô giá 23.000 đồng) = 460.000 đồng. Tổng tiền lô thường: 460.000 đồng.
-
- So kết quả xổ số ngày 30/4/2022: Số đề: Không trúng thưởng
-
Số lô: 31 trúng thưởng 05 điểm, 91 trúng thưởng 05 điểm. Tổng trúng thưởng 10 điểm (01 điểm lô giá 23000 đồng, trúng được thưởng 80.000 đồng) là 800.000 đồng.
Tổng số tiền V và T3 sử dụng đánh bạc ngày 30/4/2022 là: 190.000 đồng + 460.000 đồng + 800.000 đồng = 1.450.000 đồng. Tưởng thu lợi bất chính: thua 150.000 đồng.
Tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V ghi bán số lô, số đề ngày 01/5/2022 là:
-
- Đề hai số: + Số đề hai số: (70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 87, 97) x 10.000 đồng = 190.000 đồng
-
Tổng tiền đề hai số: 190.000 đồng
-
- Lô thường: Số lô (77, 14, 59, 92) x 05 điểm (một điểm lô giá 23.000 đồng) = 460.000 đồng. Tổng tiền lô thường: 460.000 đồng.
-
- So kết quả xổ số ngày 01/5/2022:
-
Số đề: Không trúng thưởng
-
Số lô: 77 trúng thưởng 05 điểm (01 điểm lô giá 23000 đồng, trúng được thưởng 80.000 đồng) là 400.000 đồng.
Tổng số tiền V và T3 sử dụng đánh bạc ngày 01/5/2022 là: 190.000 đồng + 460.000 đồng + 400.000 đồng = 1.050.000 đồng. Tưởng thu lợi bất chính: 250.000 đồng.
Tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V ghi bán số lô, số đề ngày 03/5/2022 là:
-
- Đề hai số: Số đề hai số: (40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 04, 14, 24, 34, 54, 64, 74, 84, 94) x 5.000 đồng = 95.000 đồng. Tổng tiền đề hai số: 95.000 đồng.
-
- Lô thường: Số lô (45, 47, 89) x 05 điểm (một điểm lô giá 23.000 đồng) = 345.000 đồng. Tổng tiền lô thường: 345.000 đồng.
-
- So kết quả xổ số ngày 03/5/2022:
-
Số đề: 43 trúng thưởng 5.000 đồng, trúng được thưởng gấp 80 lần là 400.000 đồng
-
Số lô: Không trúng thưởng.
Tổng số tiền V và T3 sử dụng đánh bạc ngày 03/5/2022 là: 95.000 đồng + 345.000 đồng + 400.000 đồng = 840.000 đồng.Tưởng thu lợi bất chính: 440.000 đồng.
Tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V ghi bán số lô, số đề ngày 12/10/2022 là: Đề hai số: Số đề hai số: (17; 71; 83) x 10.000 đồng = 30.000 đồng
-
+ Số đề hai số: (33, 88) x 25.000 đồng = 50.000 đồng. Tổng tiền đề hai số: 80.000 đồng.
-
- Lô thường:
-
+ Số lô (12; 10) x 50 điểm (một điểm lô giá 23.000 đồng) = 2.300.000 đồng.
-
+ Số lô (81) x 10 điểm (một điểm lô giá 23.000 đồng) = 230.000 đồng. Tổng tiền lô thường: 2.530. 000 đồng.
-
- So kết quả xổ số ngày 12/10/2022:
-
Số đề: Không trúng thưởng
-
Số lô: 10 trúng thưởng 50 điểm, 81 trúng thưởng 10 điểm. Tổng trúng thưởng 60 điểm (01 điểm lô giá 23000 đồng, trúng được thưởng 80.000 đồng) là 4.800.000 đồng.
Tổng số tiền V và T3 sử dụng đánh bạc ngày 12/10/2022 là: 80.000 đồng + 2.530.000 đồng + 4.800.000 đồng = 7.410.000 đồng. Tưởng thu lợi bất chính: thua 2.190.000 đồng.
Tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V ghi bán số lô, số đề ngày 13/10/2022 là:
-
- Đề hai số: Số đề hai số: (26, 62, 14, 41, 47) x 200.000 đồng = 1.000.000 đồng. Số đề hai số: (48, 84 ) x 40.000 đồng = 80.000 đồng. Tổng tiền đề hai số: 1.080.000 đồng
-
- Lô thường:
-
Số lô (23, 09, 50) x 50 điểm (mỗi điểm lô giá 23.000 đồng) = 3.450.000 đồng. Số lô (47, 74) x 20 điểm (mỗi điểm lô giá 23.000 đồng) = 920.000 đồng.
Tổng tiền lô thường: 4.370.000 đồng. Tổng số tiền V và T3 sử dụng đánh bạc ngày 13/10/2022 là: 1.080.000 đồng + 4.370.000 đồng = 5.450.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền Đào Minh T3 và Bùi Thị V sử dụng đánh bạc ( các ngày 30/4/2022, 01/5/2022, 03/5/2022, 12/10/2022 và 13/10/2022) là: 1.450.000 đồng + 1.050.000 đồng + 840.000 đồng + 5.450.000 đồng + 7.410.000 đồng = 16.200.000 đồng. Số tiền T3 thu lợi bất chính từ đánh bạc ngày 30/4/2022, 01/5/2022, 03/5/2022, 12/10/2022: thua 1.650.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Tuấn N sử dụng đánh bạc ngày 13/10/2022 là 4.450.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Duy T2 sử dụng đánh bạc ngày 13/10/2022 là 1.000.000 đồng
Tại Cơ quan điều tra:
Bùi Thị V khai nhận hành vi phạm tội, do ít khách mua số lô, đề nên T3 chưa tháng nào trả tiền thuê nhà cho V.
Đào Minh T3 khai nhận: Tưởng thuê Bùi Thị V ghi bán các số lô, số đề cho các con bạc nhằm thu lời bất chính. Khi khách trúng thưởng, T3 sẽ đưa tiền cho V để V trả tiền cho khách. Ngày 30/4/2022, 01/5/2022, 03/5/2022 và ngày 12/10/2022, V bán số lô, số đề cho khách vãng lai. V đã chuyển số lô, số đề và tiền bán số lô, số đề cho T3. Tưởng chi trả hoa hồng cho V thông qua hình thức trả tiền thuê nhà, điện nước hàng tháng. Ngày 13/10/2022, V chưa chuyển bảng cáp và tiền cho T3. Do ít khách mua số lô, đề nên T3 chưa tháng nào trả tiền thuê nhà cho V.
Đối với Nguyễn Tuấn N mua các số lô, số đề của V, tổng số tiền là 4.450.000 đồng; Nguyễn Duy T2 mua số lô, số đề của V tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Tuấn N và Nguyễn Duy T2 vi phạm hành chính “mua các số lô, số đề”, ngày 05/5/2023, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L (sinh ngày: 20/9/2004; Trú tại: thôn P, xã U, huyện Đ, Hà Nội) có mua sim số thuê bao 0388600827 và đăng ký chính chủ mang tên chị tuy nhiên chị đã bỏ sim, không rõ người sử dụng sim trên hiện là ai, chị L không tham gia đánh bạc hình thức số lô, số đề, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị L.
Đối với đối tượng mua số lô, số đề ngày 30/4/2022, 01/5/2022, 03/5/2022 và ngày 12/10/2022 của V, là khách vãng lai, V không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm rõ được.
Ngày 10/4/2023 Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Bùi Thị V. Ngày 05/5/2023 Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi đánh bạc của V do chưa có kết luận giám định tâm thần. Ngày 08/5/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, bị can đối với Bùi Thị V về hành vi Đánh bạc.
Ngày 28/6/2023 Toà án nhân dân huyện Đông Anh đã xét xử đối với bị cáo Đào Minh T3, xử phạt Tưởng 10 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 20 tháng.
Ngày 14/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ nhận được kết luận giám định pháp y tâm thần đối với Bùi Thị V. Ngày 14/8/2023, đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với V; quyết định phục hồi điều tra đối với V, áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với V.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 247 ngày 07/8/2023 của V2, kết luận như sau:
Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 13/10/2022 và tại thời điểm giám định bị can Bùi Thị V bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70.
Tại các thời điểm trên bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Xử lý vật chứng thu giữ của Bùi Thị V và Nguyễn Tuấn N:
-
- 01 quyển sổ kích thước (15x25)cm bên trong có trang ghi số lô, số đề;
-
- 01 tích kê kích thước (10x15)cm bên trong có các số lô, số đề (tích kê lô, đề V đưa cho N) chuyển hoá làm tài liệu trong hồ sơ vụ án;
-
- 01 đĩa CD-R (lưu trữ dữ liệu giám định điện thoại của V) kèm theo trong hồ sơ vụ án.
-
- 5.450.000 đồng tiền Ngân hàng N2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu vàng, bên trong điện thoại có gắn 01 thẻ SIM (số thuê bao: 0388.600.827) chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh giải quyết theo quy định.
Tại cáo trạng số 237/CT-VKS ngày 01/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Bùi Thị V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, q, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Bùi Thị V.
-
Xử phạt bị cáo Bùi Thị V từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 18 đến 24 tháng.
-
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.450.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW thu giữ trên người bị cáo liên quan tới việc đánh bạc. Không phạt tiền bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên toà đề nghị hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo để xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất. Cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội các bị cáo Bùi Thị V tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng vật chứng của vụ án là số tiền 5.450.000 đồng thu giữ của bị cáo tại nơi bắt giữ quả tang, các vật chứng khác đã được thể hiện trong hồ sơ vụ án mà bị cáo dùng để phục vụ việc đánh bạc.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Thị V phạm tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015( sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ....thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tùtừ 06 tháng đến 03 năm".
[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
-
- Về tiền án, tiền sự:
-
+ Đối với các bị cáo Bùi Thị V lần phạm tội này là lần đầu.
-
-
- Về nhân thân: Xác định các bị cáo Bùi Thị V có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
-
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:
-
+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Thị V phạm tội nhiều lần. Đây là tình tiết tăng nặng cần phải áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo.
-
+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Bùi Thị V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); Bị cáo phạm tội trong tình trạng có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (Điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt:
-
- Hành vi đánh bạc của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng do nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị nhà nước quy định là tội phạm, nhưng vì tham tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn huyện Đ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Tuy nhiên xét bị cáo có nhân thân tốt. Lần phạm tội này đối với bị cáo là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy xử phạt bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật trong chính sách nhân đạo của nhà nước để bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội trở thành người tốt.
-
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền... Tuy nhiên xét bị cáo trong vụ án hiện đang không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
-
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW thu giữ trên người bị cáo liên quan tới việc đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
-
Đối với số tiền 5.450.000 đồng tiền dùng để đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Xử lý vật chứng như vậy là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; Điều 65; Điểm i, q, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Áp dụng đối với Bùi Thị V.
-
- Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Tuyên bố bị cáo: Bùi Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bùi Thị V 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú) để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật thi hành án hình sự.
Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 5.450.000 đồng (năm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) liên quan tới việc đánh bạc (Theo giấy uỷ nhiệm chi vào tài khoản ngày 07/11/2023, vào tài khoản số 3949.0.1047882 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW bên trong gắn sim số thuê bao 0388600827 (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
Bị cáo Bùi Thị V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vẫn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Tuyến |
Bản án số 240/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về đánh bạc
- Số bản án: 240/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Đánh bạc
