Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2025/DS-PT

Ngày: 12-6-2025

V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương

Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến

Ông Trần Vĩnh Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 430/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 135 /2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ liên lạc: Văn phòng Luật sư Võ Tuấn N, số E L, tổ A, khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hoàng Đình T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A, đường D, ấp H, huyện L, tỉnh Đồng Nai. ( Theo văn bản ủy quyền ngày 03/01/2025)
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Hàn V, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Hàn Thị Bích L; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    2. Chị Vũ Thị Kiều O, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    3. Chị Vũ Hoàng Trâm A, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    4. Anh Nguyễn Phát T2, sinh năm 2011; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    5. Người đại diện theo pháp luật của anh T2 là bà Nguyễn Hàn V, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ G, ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    6. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Địa chỉ: C, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
    7. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    8. Bà Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
    9. Bà Nguyễn T4, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp G, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T1, bà V, bà L có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Nguyên đơn anh Nguyễn Anh T trình bày: Thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 diện tích 2.414,1m² xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai anh T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 525874 ngày 30/9/2015. Nguồn gốc phần đất này anh T được nhận thừa kế từ cha mẹ là ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1958 (đã chết năm 1999) và bà Hàn Thị T5, sinh năm 1962 (đã chết năm 2004).

Khoảng năm 2016 đến 2017, do thấy chị V không có chỗ ở nên anh T đã cho chị V ở nhờ, anh T cho chị V cất một căn nhà tạm có chiều ngang 4m x chiều dài 6m để ở tạm, do tính chất công việc anh hay đi làm ăn xa, không ở nhà thường xuyên nên chị V đã tự cơi nới nhà và tài sản trên đất như hiện nay. Về quá trình đóng thuế: Do đây là đất nông nghiệp nên không đóng thuế.

Nay anh T yêu cầu Toà án giải quyết bà Nguyễn Hàn V trả lại cho anh diện tích đất 169,7m² thuộc một phần thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần đất này được ký hiệu là thửa tạm số 46b được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1 tại Bản đồ hiện trạng khu đất số 3878/2024 ngày 05/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2.

Trên phần diện tích đất tranh chấp nêu trên có 01 nhà ở gia đình diện tích 88,6m² và 01 giếng khoan có kết cấu như mô tả theo Chứng thư Thẩm định giá số 317/2014 của Công ty Cổ phần T7. Anh yêu cầu được sở hữu tài sản trên đất, anh sẽ thanh toán lại cho bà V giá trị tài sản theo giá Chứng thư thẩm định giá là 79.970.000 đồng và yêu cầu bà V phải trả cho anh tài sản trên đất.

Bị đơn đồng thời là người người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Phát T2 – bà Nguyễn Hàn V trình bày:

Về nguồn gốc: Phần diện tích đất tranh chấp nêu trên do bà mua lại của bà Hàn Thị Bích L vào năm 1998 với giá 02 triệu đồng, khi mua có làm giấy tay mua bán. Nguồn gốc bà L có phần đất nêu trên do mua lại của bố mẹ anh Nguyễn Anh T là ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1958 (đã chết năm 1999) và bà Hàn Thị T5, sinh năm 1962 (đã chết năm 2004). Giữa bà L với bố mẹ anh T nhận chuyển nhượng từ năm nào thì bà không biết, chỉ biết là nhận chuyển nhượng trước khi bà L nhận chuyển nhượng lại cho bà.

Về quá trình quản lý, sử dụng: Bà đã nhận đất từ năm 1998 để quản lý, sử dụng đến nay. Khi bà nhận đất thì trên đất có 01 căn nhà cấp 4 của bà L. Sau đó khoảng 05 đến 06 năm thì căn nhà gỗ sập nên bà đã tháo dỡ và xây dựng căn nhà cấp 4 như hiện nay. Trên đất hiện nay có những tài sản như mô tả trong chứng thư thẩm định giá. Đến đầu năm 2024 thì anh Nguyễn Anh T xuống nhà bà đòi rào nhà bà lại để lấy đất nhưng bà không đồng ý do đây là đất bà mua lại của bà L.

Từ khi nhận chuyển nhượng bà chưa đi đăng ký kê khai cấp giấy và cũng không đóng thuế đất.

Bà không có yêu cầu phản tố trong vụ án này.

Với tư cách là người đại diện theo pháp luật của con bà thì con bà thống nhất ý kiến của bà trình bày và không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hàn Thị Bích L trình bày:

Bà thống nhất với trình bày của bà V. Phần diện tích đất tranh chấp nêu trên do bà nhận chuyển nhượng của bố mẹ anh Nguyễn Anh T vào năm 1997. Khi chuyển nhượng vì nghĩ là chị em ruột nên không làm giấy tờ, bà nhận chuyển nhượng với giá 01 triệu đồng và đã giao đủ tiền nhận chuyển nhượng cho ông N1, bà T5. Ông N1, bà T5 giao đất cho bà sử dụng, phần đất này khi giao đất hai bên không đóng cọc mốc mà vợ chồng ông N1 chỉ ranh và bà nhận đất. Sau khi nhận đất bà có xây dựng một căn nhà gỗ trên đất. Đến năm 1998 bà chuyển nhượng lại cho chị V với giá 2.000.000 đồng như chị V đã khai.

Bà cũng không đi đăng ký kê khai, không đóng thuế đối với phần diện tích đất tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Kiều O, chị Vũ Hoàng Trâm A trình bày:

Chị O, chị A thống nhất trình bày của bà V, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các chị không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn T4 – anh Nguyễn Anh T trình bày:

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do anh T đại diện theo uỷ quyền thống nhất với trình bày của anh T. Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn T4 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh T và không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn là hợp lệ trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T yêu cầu bà Nguyễn Hàn V trả lại diện tích đất 169,7m² thuộc một phần thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần đất này được ký hiệu là thửa tạm số 46b được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1 tại Bản đồ hiện trạng khu đất số 3878/2024 ngày 05/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2, vì ông T cho rằng phần diện tích đất này ông chỉ cho bà V ở nhờ trên đất, phần đất này ông được nhận thừa kế từ bố mẹ là ông Nguyễn Văn N1 và bà Hàn Thị T5 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn và Nguyễn Hàn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hàn Thị Bích L không đồng ý với ý kiến của ông T vì cho rằng phần diện tích đất tranh chấp nêu trên do bà L nhận chuyển nhượng của bố mẹ ông Nguyễn Anh T vào năm 1997. Đến năm 1998 bà L chuyển nhượng lại cho bà V, bà V đã quản lý, sử dụng đất từ đó đến nay.

Xét thấy, theo ông Hoàng Đình T1 - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Anh T trình bày: ông T cho bà V ở nhờ trên đất từ năm 2016, khi ở nhờ trên đất chưa có công trình xây dựng. Còn theo bà V và bà L trình bày: bà V ở trên diện tích đất tranh chấp từ năm 1998 mua của bà L (bà L mua của cha mẹ ông T), khi mua đã có một căn nhà gỗ, sau đó căn nhà gỗ xuống cấp nên bà V xây dựng căn nhà cấp 4 như hiện nay và sinh sống cùng với các con cho đến khi đi chấp hành án. Bà V và các con là người làm thủ tục để vào công trình điện, nước. Tại giai đoạn phúc thẩm, bà V cung cấp chứng cứ mới là tài liệu thể hiện bà đã đăng ký hộ khẩu tại nhà đất nêu trên từ trước khi tranh chấp với ông T. Như vậy, lời trình bày của phía ông T, bà V, bà L là mâu thuẫn nhau. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tiến hành xác minh tại ấp C, xã C ngày 10/6/2025 thì được Trưởng ấp C và người lớn tuổi sinh sống tại địa phương cho biết: thực tế gia đình bà V đã sinh sống trên nhà đất tranh chấp từ năm 1998 đến nay, khi bà V đi chấp hành án thì các con của bà V vẫn sinh sống trên diện tích đất này. Như vậy, cần phải làm rõ lý do vì sao bà V ở trên nhà đất tranh chấp từ năm 1998, có thật sự bà L đã nhận chuyển nhượng từ cha mẹ ông T sau đó chuyển nhượng lại nhà đất cho bà V và bà V sinh sống trên đất từ năm 1998 như xác minh của Tòa án hay không?

Việc Tòa án nhân dân huyện Long Thành xác định: “phần diện tích đất tranh chấp đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Anh T đúng theo quy định của pháp luật; bà V, bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chuyển nhượng nêu trên”, đồng thời nhận định “giả sử có việc chuyển nhượng như trên và bị đơn yêu cầu phản tố công nhận hiệu lực của hợp đồng thì việc chuyển nhượng này cũng không đảm bảo theo quy định về việc tách thửa đất theo Quyết định số 35/2022/QĐ-UBND ngày 29/8/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ, do đó việc chuyển nhượng này nếu có thì cũng bị vô hiệu theo quy định của pháp luật” là chưa đủ cơ sở. Bởi lẽ, nếu xác minh làm rõ được trường hợp bà L, bà V thật sự nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông N1, bà T5 từ năm 1998, đã thanh toán hết tiền và đã xây dựng nhà trên đất sẽ làm thay đổi đường lối giải quyết vụ án.

Do tại Tòa cấp phúc thẩm xuất hiện tình tiết mới dẫn đến cần phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ vì vậy cần phải hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Hàn V về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sẽ được xem xét khi Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 3 Điều 308 BLTTDS hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành do xuất hiện tình tiết mới, cần phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dược thẩm tra tại phiên tỏa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của ông Đoàn Hồng L1 và bà Nguyễn Thị Bích D thực hiện đúng quy định nên được chấp nhận xem xét theo tủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết và tư cách đương sự đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành xác định đúng và đầy đủ.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Hàn V, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Nguyên đơn anh T yêu cầu bà Nguyễn Hàn V trả lại diện tích đất 169,7m² thuộc một phần thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần đất này được ký hiệu là thửa tạm số 46b được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1 tại Bản đồ hiện trạng khu đất số 3878/2024 ngày 05/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2.

Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất này anh được nhận thừa kế từ bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1958 (đã chết năm 1999) và bà Hàn Thị T5, sinh năm 1962 (đã chết năm 2004). Anh cho chị V ở nhờ trên đất từ năm 2016 đến nay, anh T cho chị V cất một căn nhà tạm có chiều ngang 4mx chiều dài 6m.

Bà V và bà L không thống nhất với ý kiến của anh T vì cho rằng phần diện tích đất tranh chấp nêu trên do bà L nhận chuyển nhượng của bố mẹ anh Nguyễn Anh T vào năm 1997. Đến năm 1998 bà L chuyển nhượng lại phần đất này cho bà V, bà V đã quản lý, sử dụng đất từ đó đến nay.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị V cung cấp Sổ hộ khẩu để chứng minh chị có đăng ký hộ khẩu tại nhà và đất tranh chấp trước năm 2016. Tại Biên bản xác minh ngày 10/6/2025, Công an xã C cung cấp bà Nguyễn Hàn V có hộ khẩu thường trú tại địa phương từ năm 1978 đến năm 1996 thì tách ra thành một hộ riêng; Tại Biên bản xác minh ngày 10/6/2025 T6 ấp xã C và người lâu năm sống tại địa phương cũng thể hiện chị V và các con đã sinh sống trên thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C từ năm 1998.

[5] Xét lời khai của chị V và bà L về nơi cư trú, thời gian sinh sống trên đất phù hợp với các chứng cứ khách quan mà cấp phúc thẩm đã thu thập.

[6] Từ những căn cứ trên có thể kết luận việc anh T khai cho mẹ con chị V ở nhờ từ năm 2016 là không có cơ sở, mâu thuẫn với những chứng cứ khách quan khác.

Do đó, cần làm rõ lý do tại sao bà L lại dựng được nhà trên phần đất tranh chấp từ năm 1997 và lý do tại sao mẹ con chị V lại sinh sống trong căn nhà đó từ năm 1998. Đồng thời, phải đối chất làm rõ mâu thuẫn giữa lời khai của các đương sự trong vụ án, lý do mục đích khai không đúng sự thật.

Bên cạnh đó, thời điểm bà L dựng nhà và mẹ con chị V sinh sống trên thửa đất thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C đều trước thời điểm mở thừa kế của ông N1, bà Thúy cũng như trước thời điểm anh T được cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C nên cần phải thu thập tài liệu chứng cứ và xem xét lại thủ tục kê khai di sản thừa kế đối với diện tích đất trên của anh T có phù hợp với quy định hay không. Từ đó, mới làm rõ được bản chất sự việc để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên.

[7] Xét cần thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện được nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị V không phải án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[9] Đối với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH/14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Hàn V. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết lại.

Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm sẽ được Tòa án nhân dân huyện Long Thành xem xét khi giải quyết lại vụ án.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị V số tiền 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu số 0016253 ngày 09/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp huyện;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS cấp huyện;
  • - Đương sự trong vụ án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thành Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 233/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay anh T yêu cầu Toà án giải quyết bà Nguyễn Hàn V trả lại cho anh diện tích đất 169,7m2 thuộc một phần thửa đất số 46, tờ bản đồ số 11 xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai, phần đất này được ký hiệu là thửa tạm số 46b được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 1 tại Bản đồ hiện trạng khu đất số 3878/2024 ngày 05/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2. Trên phần diện tích đất tranh chấp nêu trên có 01 nhà ở gia đình diện tích 88,6m2 và 01 giếng khoan có kết cấu như mô tả theo Chứng thư Thẩm định giá số 317/2014 của Công ty Cổ phần T7. Anh yêu cầu được sở hữu tài sản trên đất, anh sẽ thanh toán lại cho bà V giá trị tài sản theo giá Chứng thư thẩm định giá là 79.970.000 đồng và yêu cầu bà V phải trả cho anh tài sản trên đất.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger