Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY S

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY S, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Sang.

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây S, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây S tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1996 (Có mặt).

Địa chỉ: thôn P, xã TP, huyện T, Bình Định.

Bị đơn: Anh Thân Minh Hoàng S, sinh năm 1996 (Vắng mặt lần 02).

Địa chỉ: Khối N, thị trấn P1, huyện T, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Bùi Thị Đ trình bày: chị và anh Thân Minh Hoàng S tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình chấp nhận tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục không nhớ rõ ngày tháng năm. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P1 vào ngày 13/9/2016. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 8 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do chồng ngoại tình; chị đã bỏ qua, khuyên nhủ chồng để tiếp tục chung sống nhưng anh S vẫn không sửa đổi. Vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau từ tháng 5/2024 đến nay. Nay xét thấy không còn tình cảm yêu thương gì, chị yêu cầu ly hôn anh S.

Về con chung: chị và anh Thân Minh Hoàng S có 01 con chung là Thân Nguyên K (nam) sinh ngày 07/11/2016. Khi ly hôn chị yêu cầu nhận nuôi cả con chung (K) đến trưởng thành; không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn là anh Thân Minh Hoàng S vắng mặt không có lý do: anh Thân Minh Hoàng S đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 08/7/2024, Công an thị trấn P1 cung cấp: anh Thân Minh Hoàng S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ X, khối N, thị trấn P1, huyện T; anh Thân Minh Hoàng S hiện có mặt tại địa chỉ nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây S phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: chị Bùi Thị Đ được ly hôn anh Thân Minh Hoàng S. Về con chung: giao con chung tên Thân Nguyên K (nam) sinh ngày 07/11/2016 cho chị Đ nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu nên miễn xét; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Thân Minh Hoàng S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Đ với anh Thân Minh Hoàng S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P1 vào ngày 13/9/2016 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh S không chung thủy, có quan hệ ngoại tình; chị Đ đã bỏ qua để tiếp tục chung sống nhưng anh S vẫn không sửa đổi. Hai bên đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ tháng 5/2024 đến nay. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng hai bên vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Đ yêu cầu ly hôn với anh S là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: chị Đ và anh S có 01 con chung tên Thân Nguyên K (nam) sinh ngày 07/11/2016. Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu nhận nuôi con chung (K) đến trưởng thành. HĐXX xét thấy yêu cầu của chị Đ là phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, nghị nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đ không yêu cầu nên HĐXX không xét.

[4] Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Bùi Thị Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước.

[6] Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Đ:
    • - Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Đ được ly hôn anh Thân Minh Hoàng S.
    • - Về con chung: Giao con chung tên Thân Nguyên K (nam) sinh ngày 07/11/2016 cho chị Bùi Thị Đ chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành.
    • Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Tòa không xét.
    • Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.
  2. Về án phí sơ thẩm:
  3. Chị Bùi Thị Đ phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai số 0003698 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây S; chị Đ đã nộp đủ án phí.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

  6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
  7. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây S;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây S;
  • - UBND thị trấn Phú Phong;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Giang Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY S, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 233/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY S, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Đ tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger