Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 233/2024/HS-PT

Ngày: 04 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 527/2023/TLPT-HS ngày 11/12/2023 đối với bị cáo Bùi Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 444/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Thị H, sinh năm 1995 tại Nghệ An.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ AnNơi ở hiện nay: Tổ H, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Họ tên cha: Bùi Hữu N năm 1960; Họ tên mẹ: Đinh Thị T năm 1964; Họ tên chồng: Trần Thái B năm 1990. Bị cáo có 02 người con (sinh năm 2017 và năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị H1 chủ tiệm photocopy không có biển hiệu tại tổ H, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng NaiTrong quá trình photocopy giấy tờ cho khách hàng, H2 có nhiều người có nhu cầu cần làm giả các giấy tờ như giấy khám sức khỏe, sơ yếu lý lịch, bằng tốt nghiệp...nên H3 nảy sinh ý định làm giả các giấy tờ trên để kiếm lời. Trong tháng 11/2021, Hđã 02 lần liên hệ qua mạng xã hội zalo với một người đàn ông tên L(không rõ nhân thân lai lịch) và cùng Lam làm giả các loại giấy tờ bằng cách: Khi có người cần làm giả giấy khám sức khoẻ, bằng tốt nghiệp... thì trực tiếp đến tiệm photo của H4 đưa cho H5 ảnh, thông tin tên tuổi, nơi cư trú. Sau đó, H6 lạc và cung cấp cho L1 Lam làm giả. Đối với các giấy khám sức khoẻ Lđã làm có sẵn dấu mộc và chữ ký, H7 hoàn thành phần dán ảnh và dấu giáp lai rồi điền thông tin của người mua. Đối với bằng tốt nghiệp và chứng thực bản sao các tài liệu khác, khi hoàn thành xong Lsẽ đưa lại cho HVới cách thức như trên, Hvà L làm giả các giấy tờ, cụ thể:

- Lần 1: Vào tháng 11/2021 (không rõ ngày), các đối tượng không rõ lai lịch đến tiệm photocopy gặp H8 làm 01 giấy khám sức khoẻ và chứng thực bản sao 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy khai sinh tên Nguyễn Thùy L2(sinh năm 2001, HKTT: ấp M, xã A, U, tỉnh Kiên Giang, 01 bản sao sổ hộ khẩu chủ hộ Nguyễn Thành V(cha của L1với giá 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng); 01 giấy khám sức khoẻ tên Phạm Trọng N1(sinh năm 1994, HKTT: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ Anvới giá 80.000đ (T1 mươi nghìn đồng); 01 giấy khám sức khoẻ tên Lê Thị Tuyết N2(sinh năm 2002, nơi ở: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Naivới giá 80.000đ (T1 mươi nghìn đồng); 01 giấy khám sức khoẻ, chứng thực bản sao giấy khai sinh và 01 bản sao sổ hộ khẩu chủ hộ O(sinh năm 1998, HKTT: A, A, Đ, Bạc Liêu với giá 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 giấy khám sức khoẻ tên Lê Văn T2(sinh năm 1983, nơi ở: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Naivới giá 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng)

Hđã liên lạc với L1 làm giả các giấy tờ nêu trên. Đối với các giấy khám sức khỏe giả đã ghi phần nội dung khám và dấu mộc của Bệnh viện Đ2có chữ ký và mộc tên bác sỹ Nguyễn Văn C dưới cột mục người kết luận, có mộc dấu tròn Bệnh viện Đ2bị khuyết một góc ở vị trí giáp lai ảnh của đối tượng khám sức khỏe (chưa điền thông tin). Hđã dán ảnh và dùng nắp chai nước hình tròn và bút có mực màu đỏ để vẽ hình dấu tròn liền với nhau để hoàn thành dấu giáp lai ảnh và ghi các thông tin những người trên theo chứng minh nhân dân vào giấy khám sức khỏe. Đối với chứng thực bản sao các giấy tờ, L3 hoàn thành và đưa cho HNhững giấy tờ này H9 giao cho người đặt mua. Hđã trả cho L4 tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng), H10 lợi được 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

- Lần 2: Vào ngày không rõ (khoảng giữa tháng 11/2021 cách lần 1 khoảng 3 ngày), 01 người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đến tiệm photocopy đưa cho H11 chứng minh nhân dân (bản chính) tên Trần Hữu L5(sinh năm 2001, HKTT: thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, số CMND: [...] do Công an tỉnh B và đặt Hlàm giả một Bằng Tốt nghiệp Trung học phổ thông tên Trần Hữu L2giấy chứng thực bản sao Bằng Tốt nghiệp trung học phổ thông. Ngoài ra còn nhờ Hchứng thực một bộ hồ sơ xin việc mang tên Trần Hữu L2gồm: 01 giấy khám sức khỏe; 02 sơ yếu lý lịch; 01 đơn xin việc; 01 đơn xin xác nhận hạnh kiểm; 01 bản sao chứng thực giấy khai sinh; 01 bản sao sổ hộ khẩu chủ hộ Trần Hữu L3và 01 bản sao giấy chứng minh nhân dân với giá là 1.850.000đ (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Htiếp tục liên hệ với Lam làm giả bộ hồ sơ trên. Sau khi làm giả bộ hồ sơ của Trần Hữu L6 tiếp đến tiệm photocopy của H12 cho H13 hồ sơ giả của Trần Hữu L2gồm có các giấy tờ sau: 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông đứng tên Trần Hữu L2số hiệu A08017509 đề ngày 31/10/2019 của Sở giáo dục đào tạo tỉnh B, người ký Nguyễn Văn H1chức vụ giám đốc Sở giáo dục và đào tạo tỉnh B chứng thực bản sao Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông có nội dung thông tin như bản chính nêu trên; 01 chứng thực bản sao sổ hộ khẩu số [...]; 01 chứng thực bản sao giấy khai sinh đề ngày 16/2/2002 đóng mộc dấu đỏ của Ủy ban nhân dân phường T Bvà chữ ký của chủ tịch Huỳnh Đ01 đơn xin xác nhận hạnh kiểm đề ngày 16/10/2021 đóng mộc dấu tròn đỏ của Công an xã Đ, tỉnh Bình Phướcvà chữ ký của trung tá Nguyễn Văn T3 Công an xã với phần thông tin để trống; 01 giấy khám sức khỏe đã ghi phần nội dung khám và dấu mộc của Bệnh viện Đ2có chữ ký và mộc tên bác sỹ Nguyễn Văn C dưới cột mục người kết luận, có mộc dấu tròn Bệnh viện Đ2bị khuyết một góc ở vị trí giáp lai ảnh của đối tượng khám sức khỏe (chưa điền thông tin). Sau khi nhận các loại giấy tờ này, H14 cho L4 tiền 1.250.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Hthu lợi được 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng).

Htrực tiếp làm giả giấy khám sức khỏe bằng cách dán hình và điền thông tin Trần Hữu L5(theo giấy chứng minh nhân dân). Sau đó, H15 nắp chai nước và dùng bút bi đỏ vẽ trực tiếp viền tròn lên hình sao cho khớp với phần mộc giáp lai. Những giấy tờ trên Hchưa giao cho người đặt mua.

Đến khoảng 15 giờ 00 ngày 05/12/2021, Công an phường Tkiểm tra tiệm photocopy của H16 hiện và thu giữ toàn bộ các giấy tờ, tài liệu nêu trên.

Vật chứng được thu giữ trong vụ án:

  • 06 (sáu) giấy khám sức khỏe mang tên T5(kí hiệu A1 đến A6).
  • 01 giấy chứng minh nhân dân photo tên Nguyễn Thùy L101 sổ hộ khẩu photo tên chủ hộ N V01 giấy khai sinh photo tên Nguyễn Thùy L2(kí hiệu A21 đến A23).
  • 01 giấy khai sinh photo, 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông photo mang tên Trần Hữu L201 giấy khai sinh photo 01 sổ hộ khẩu photo tên Ong Q(kí hiệu A24 đến A27).
  • 01 (một) Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, số hiệu: A 08017509, mang Họ và tên: Trần Hữu L2đề ngày 31/10/2019 (ký hiệu A1).
  • 01 (một) Sổ hộ khẩu (bản photocopy), số: [...], mang Họ và tên chủ hộ: Trần Hữu L3đề ngày 15/10/2010 có Chứng thực bản sao này đúng bản chính, đề ngày 16/10/2021 (ký hiệu A2).
  • 01 (một) Đơn xin xác nhận hạnh kiểm, đứng tên: Trần Hữu L2đề ngày 16/10/2021 (ký hiệu A3)
  • 02 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc, 01 chứng minh nhân dân (bản sao) tên Trần Hữu L7 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc mang tên Đặng Văn T4 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc mang tên Phạm Trọng N3 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc, 01 chứng minh nhân dân (bản sao) tên O2(kí hiệu A7 đến A20).
  • 01 bút bi màu đỏ; 01 nắp chai nhựa.
  • 01 giấy chứng minh nhân dân (bản chính) số [...] cấp ngày 1/7/2019 do Công an tỉnh B cho T6 01 giấy chứng minh nhân dân (bản chính) số [...] cấp ngày 8/6/2020 do Công an tỉnh B cho O1 cơ quan điều tra đang tạm giữ để tiếp tục xác minh.
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo của H15 liên lạc với người tên L1 làm giả các loại giấy tờ, hiện L3 làm mất nên không thu giữ được.

* Tại Kết luận giám định số 1233/KL-KTHS ngày 20/7/2022 của Phòng K1(PC09) Công an tỉnh Đkết luận như sau:

  • Hình dấu tròn Bệnh viện Đ– Sở y tế tỉnh ĐỦy ban nhân dân phường Ttrên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A6, từ A21 đến A27) so với hình dấu tròn Sở Y tế tỉnh Đ– Bệnh viện Đ2UBND Phường Ttương ứng trên các tài liệu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • Chữ ký mang tên BS. CKII Nguyễn Văn C1 các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A6) so với chữ ký mang tên BS.CKII Nguyễn Văn C1 các tài liệu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký ra.
  • Hình dấu tròn UBND Phường TT. Đtrên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (Ký hiệu từ A7 đến A20) so với hình dấu tròn UBND Phường Ttrên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (Ký hiệu M2) do cùng một con dấu đóng ra.
  • Chữ ký mang tên Phó chủ tịch N T4Phan Thị Đ1trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A7 đến A14, từ A17 đến A20) so với chữ ký mang (tên Phó Chủ tịch Nguyễn Trí T4Phan Thị Đ1tương ứng trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M2, M3) do cùng một người ký ra.

* Tại Kết luận giám định số 679/KL-KTHS ngày 12/4/2023 Phòng K1Công an tỉnh Đkết luận như sau:

  • Hình dấu tròn Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Phước, U– H. B - T. BCông an X– Công an H2– T. Btrên các tài liệu nêu ở mẫu cần giám định (ký hiệu từ Al đến A3) so với dấu hình tròn Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Phước, U− H. B - tỉnh Bình PhướcCông an xã X– Công an huyện H– tỉnh Bình Phước tương ứng trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng 01 con dấu đóng ra.

Quá trình điều tra làm rõ: 02 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc tên Trần Hữu L7 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc tên Đặng Văn T4 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc tên Phạm Trọng N3 sơ yếu lý lịch và 01 đơn xin việc tên Ong Quốc K01 chứng minh nhân dân (bản sao) tên T7 (bản sao) tên Ong Q do H17 đến Ủy ban nhân dân phường T bản sao đúng với bản chính. Kết quả giám định con dấu và chữ ký chứng thực các tài liệu này là thật.

Quá trình làm giả các giấy tờ, tài liệu nêu trên, H10 lợi bất chính 900.000₫ (Chín trăm nghìn đồng).

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 444/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H18 tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bùi Thị H19 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 31/8/2023 bị cáo Bùi Thị H20 cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo do bản án sơ thẩm có nhiều thiếu sót, chưa khách quan và chưa khoan hồng.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Thị H21 hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Thị H18 tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và xử phạt bị cáo Bùi Thị H19 (ba) năm tù là đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo do bản án sơ thẩm có nhiều thiếu sót, chưa khách quan và chưa khoan hồng nhưng tại cấp phúc thẩm, mặc dù được tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhưng bị cáo không đến tham gia phiên tòa và bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điều 351 BLTTHS và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Thị H22 trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo bị cáo Bùi Thị H23 vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại đến việc xét xử và Hội đồng xét xử không ra bản án không có lợi cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về tội danh: Bị cáo Bùi Thị H24 nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm; bị cáo xác định không bị oan sai, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai của bị cáo hoàn toàn chính xác và tự nguyện. Do đó, bản án sơ thẩm là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo: Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo do bản án sơ thẩm có nhiều thiếu sót, chưa khách quan và chưa khoan hồng, xét thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, để xác định mức án phạt đối với bị cáo là đúng quy định, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội bị cáo. Bị cáo H kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm bị cáo cũng không nộp thêm tài liệu chứng cứ gì mới. Cấp sơ thẩm đã quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[5] Đối với các nội dung khác trong Bản án hình sự sơ thẩm số 444/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 01 Điều 355, 356, 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thị H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 444/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Căn cứ vào khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Thị H19 (ba) năm tù tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

3. Về án phí HSPT: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần khác của Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 444/2023/HS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp tỉnh, huyện;
  • - TAND cấp sơ thẩm;
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an cấp quận, huyện;
  • - Phòng PV06 – Công an tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Thanh Bình

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Đồng Nai, ngày 04 tháng 6 năm 2024

Số: 233/TBKQXXPT

THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Căn cứ Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Căn cứ bản án hình sự phúc thẩm số: 233/2024/HS-PT ngày 04/6/2024.

Thông báo đến:

Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Nghệ An

Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đồng Nai

Về việc bị cáo: Bùi Thị H sinh năm 1995 tại Nghệ An.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm Y, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ AnNơi ở hiện nay: Tổ H, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng NaiGiới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Họ tên cha: Bùi Hữu N năm 1960; Họ tên mẹ: Đinh Thị T năm 1964; Họ tên chồng: Trần Thái B năm 1990. Bị cáo có 02 người con (sinh năm 2017 và năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú

Bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 03 (ba) năm tù tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt để thi hành án

Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thông báo để quý Ủy ban được rõ.

Nơi nhận:

  • -Như trên;
  • -Lưu hs;

THẨM PHÁN

Thái Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 233/2024/HS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 233/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger