|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 233/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Hồng;
- 2. Bà Nguyễn Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 465/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1996; địa chỉ: số B, tổ F, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: số A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; có văn bản vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Lê Công S, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị Kim P trình bày: Bà P và ông Lê Công S quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận số 55 ngày 16/3/2016, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không hợp nhau, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra bất hòa, thường xuyên mâu thuẫn không thể giải quyết được, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng không thế nào chung sống được nữa và ly thân từ thangs 02/2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lê Công S; về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Lê Gia B, sinh ngày 01/11/2014. Hiện con đang chung sống với ông S, khi ly hôn, đồng ý để ông S được tiếp tục nuôi con chung; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Lê Công S không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Lê Công S. Ông S có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
- [2] Bà Phạm Thị Kim P có văn bản xin vắng mặt, ông Lê Công S đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Phạm Thị Kim P và ông Lê Công S là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày là không tôn trọng nhau, tính tình không hợp nhau, trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra bất hòa, thường xuyên mâu thuẫn không thể giải quyết được, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng không thế nào chung sống được nữa và ly thân từ thangs 02/2021 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng bà P xin ly hôn với ông S, bà P, ông S không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chính vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho nên Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.
- [4] Về quan hệ con chung: Bà Phạm Thị Kim P xác định vợ chồng có 01 con chung là Lê Gia B, sinh ngày 01/11/2014. Hiện con đang chung sông với ông S, khi ly hôn, bà P đồng ý để ông S được tiếp tục nuôi con chung, không tranh chấp việc nuôi con nên không xét đến.
- [5] Về quan hệ tài sản chung: Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- [6] Về nợ chung: Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện xác định không có nên không xét đến
- [7] Về án phí: Bà Phạm Thị Kim P phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim P.
- 1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị Kim P ly hôn với ông Lê Công S. Giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 16/3/2016 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.
- 2) Về quan hệ con chung: Bà Phạm Thị Kim P xác định vợ chồng có 01 con chung là Lê Gia B, sinh ngày 01/11/2014. Hiện con đang chung sông với ông S, khi ly hôn, bà P đồng ý để ông S được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
Ông Lê Công S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị Kim P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- 3) Về quan hệ tài sản chung: Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- 4) Về nợ chung: Bà Phạm Thị Kim P khởi kiện xác định không có nên không xét đến.
- 5) Về án phí: Bà Phạm Thị Kim P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015622 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Phạm Thị Kim P đã nộp đủ.
- 6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |
Bản án số 233/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 233/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim P
