|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 233/2023/HSST Ngày: 04/12/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Đô
- Bà Lưu Thị Thôi
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Giang Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2023/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 265/2023/TB-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác; Sinh ngày 10 tháng 4 năm 2005; Tại: Bình Định; Nơi thường trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: ông Nguyễn Thanh H1 năm 1976; Mẹ: bà Đinh Thị L, sinh năm 1978; Cùng trú tại Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Anh chị em ruột có 02 người, bị can là con thứ 1 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị bắt truy nã và tạm giữ vào ngày 31/8/2023, chuyển tạm giam từ ngày 03/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Đặng Xuân T, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị P- sinh năm 1971 (vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/9/2022, Nguyễn Văn H đi bộ đến trước quán nước ở địa chỉ số A đường L, thôn T, xã T, thành phố P thì nhìn thấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 của anh Đặng Xuân T1 dựng trước quán không có người trông coi, trên xe có sẵn chìa khóa nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. Hổ lén lút đi đến dắt xe ra đường rồi nổ máy điều khiển xe về phòng trọ của H tại số B đường L, thôn T, xã T, thành phố P để cất giấu. Đến ngày 03/10/2022, Trần Lưu T1là bạn cùng phòng trọ mượn xe mô tô trên để đi nhận hàng thì H đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 03/10/2023, khi T1đang điều khiển xe mô tô biển số 86C1 – 271.86 đi trên đường H thuộc thôn T, xã T, thành phố P thì bị anh T2 hiện, giữ T1cùng xe mô tô lại và báo Công an xã TQuá trình làm việc, T1khai nhận mượn xe mô tô biển số 86C1 – 271.86 của Nguyễn Văn H nên Công an xã T đưa H về trụ sở làm việc, tại đây H thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 86C1 – 271.86 vào ngày 28/9/2022 như nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
Tạm giữ từ Trần Lưu T101 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 số máy 5C64 – 336782, số khung C640AY336780.
Tại Kết luận định giá tài sản số 157/KL – HĐĐG ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1 – 271.86 có giá rị tài sản là 7.200.000 đồng.
Xử lý vật chứng và dân sự:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 số máy 5C64 – 336782, số khung C640AY336780, qua tra cứu xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị P1 quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P4 đã trả lại xe mô tô cho bà PBà Pkhông yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường gì về dân sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại bản cáo trạng số 197/CT-VKSPT-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan thiết đã truy tố và thừa nhận khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 28/9/2022, tại trước quán C đường L, thôn T, xã T, thành phố P, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Đặng X T01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 có giá trị 7.200.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo, bị hại và người làm chứng đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu
tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 05 đến 07 tháng tù.
Về dân sự: Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 số máy 5C64 – 336782, số khung C640AY336780, qua tra cứu xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị P, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P4 đã trả lại xe mô tô cho bà PBà Pkhông yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường gì về dân sự.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P4, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 28/9/2022, tại trước quán C đường L, thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Đặng X T01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 86C1 – 271.86 có giá trị 7.200.000 đồng.
Từ căn cứ nêu trên xét thấy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đối với bị cáo là có căn cứ. Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, do vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Văn H là người đủ 16 tuổi, nhưng dưới 18 tuổi nên áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo xét thấy cần phải xử lý và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm.
[5] Về mức hình phạt: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 01 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 05 tháng tù đến 07 tháng tù.
Xét thấy cần phải xử lý nghiêm và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm, nên mức hình phạt và điều luật áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P4 đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho bà Nguyễn Thị P2 Bà P3 yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường gì về dân sự nên không xem xét.
[7] Về người liên quan đến vụ án: Đối với Trần Lưu Tlquá trình điều tra xác định T1không biết xe mô tô biển số 86C1 – 271.86 mà Nguyễn Văn H cho mượn là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P không xử lý đối với Tllà có căn cứ.
[8] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/8/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/12/2023) bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 233/2023/HSST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 233/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
