Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2024/DS-ST

Ngày 22-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Tú Nhi;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 248/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 238/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 221/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Đoàn Mộng H, sinh năm 1972. Thường trú: số H, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • · Bị đơn:
    1. Bà Lê Minh H1, sinh năm 1982.
    2. Ông Dương Thế L, sinh năm 1982.

    Cùng địa chỉ: số H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt không rõ lý do.

  • * Người tham gia tố tụng khác:

    - Người làm chứng: Bà Hà Thị Kim Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: số F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình tổ tụng, nguyên đơn ông Đoàn Mộng H trình bày:

Do có mối quen biết nên ông Đoàn Mộng H có cho hai vợ chồng bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L vay 820.000.000 đồng cụ thể như sau:

  • Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023: số tiền vay: 570.000.000 đồng (bà H1 ký ghi rõ họ tên; ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay; bà Hà Thị Kim Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay). Thời hạn mượn là 06 tháng tính từ ngày 02/8/2023, lãi suất hai bên tự thỏa thuận sau.
  • Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023: số tiền vay: 250.000.000 đồng (bà H1 ký ghi rõ họ tên; ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay; bà Hà Thị Kim Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay). Thời hạn mượn là 01 tháng tính từ ngày 30/8/2023, lãi suất hai bên tự thỏa thuận sau.

Số tiền 820.000.000 đồng ông H đưa trực tiếp tiền mặt cho bà H1 và ông L tại tiệm may nệm xe Hòa Tiến tại hẻm D, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hai bên thỏa thuận số tiền vay và thời hạn vay qua điện thoại, bà H1 và ông L sẽ làm Giấy mượn tiền đưa cho ông H tại tiệm M (nơi ông H đang làm việc) đưa giấy cho ông H và nhận tiền mặt. Việc nhận tiền có bà Hà Thị Kim Q (em vợ của ông H) chứng kiến. Sau khi nhận tiền thì bà H1 và ông L có trả cho ông H một ít tiền lãi suất bằng tiền mặt, không ghi giấy tờ gì, cụ thể bao nhiêu bây giờ ông H không nhớ rõ. Khoảng từ tháng 01/2024, bà H1 và ông L không còn trả tiền lãi cho ông H nữa. Hết thời hạn trả nợ theo các giấy mượn tiền ông H có yêu cầu bà H1 và ông L trả tiền nhưng bà H1 và ông L không chịu trả tiền. Đến ngày 19/6/2024, bà H1 và ông L có trả cho ông H 150.000.000 đồng (trong đó: trả 100.000.000 đồng vay của ông H vào ngày 05/9/2023 và trả số tiền 50.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023 và Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023). Bà H1 và ông L lập văn bản cam kết sẽ trả số tiền còn lại là 770.000.000 đồng cho ông H chậm nhất ngày 30/8/2024. Văn bản cam kết ngày 19/6/2024 do bà H1 và ông L tự lập và cho ông H chụp bằng điện thoại, bản chính do bà H1 và ông L giữ.

Nay, nguyên đơn ông Đoàn Mộng H khởi kiện buộc bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L trả lại cho ông Đoàn Mộng H số tiền gốc là: 770.000.000 đồng theo: Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023 và Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023. Ông Đoàn Mộng H không yêu cầu tính lãi.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người làm chứng bà Hà Thị Kim Q trình bày:

Bà Hà Thị Kim Q là em vợ của ông Đoàn Mộng H. Bà Q làm chung với ông H tại tiệm may nệm xe Hòa Tiến tại hẻm D, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bà Q có biết bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L thông qua ông H. Bà Q có chứng kiến việc mượn tiền vào các ngày:

  • Ngày 02/8/2023, tại tiệm M tại hẻm D, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương bà Q có chứng kiến việc ông H cho bà H1 và ông L mượn 570.000.000 đồng. Bà H1 và ông L có đưa Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023. Ông H là người đưa cho bà Q số tiền 570.000.000 đồng để bà Q đưa cho bà H1 và ông L. Sau khi nhận tiền thì bà H1 ký ghi rõ họ tên; ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay; bà Hà Thị Kim Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay vào Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023.
  • Ngày 30/8/2023, tại tiệm M tại hẻm D, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương bà Q có chứng kiến việc ông H cho bà H1 và ông L mượn 250.000.000 đồng. Bà H1 và ông L có đưa Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023. Ông H là người đưa cho bà Q số tiền 250.000.000 đồng để bà Q đưa cho bà H1 và ông L. Sau khi nhận tiền thì bà H1 ký ghi rõ họ tên; ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay; bà Hà Thị Kim Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay vào Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đoàn Mộng H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L có đăng ký thường trú tại: số H, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  2. Bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L.
  3. Bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài

liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  1. Về quan hệ vay tài sản: Xét thấy, G mượn tiền ngày 02/8/2023 được bà H1 ký ghi rõ họ tên, ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay, bà Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay, nội dung thể hiện bà H1, ông L vay của ông H số tiền: 570.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 02/8/2024. Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023 được bà H1 ký ghi rõ họ tên, ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay, bà Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay, nội dung thể hiện bà H1, ông L vay của ông H số tiền vay: 250.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày 30/8/2023, lãi suất hai bên tự thỏa thuận sau. Thực hiện Hợp đồng, nguyên đơn ông H đưa tiền mặt cho bà Q số tiền 570.000.000 đồng và 250.000.000 đồng, tổng cộng là 820.000.000 đồng để bà Q đưa cho bà H1 và ông L tại tiệm may nệm xe Hòa Tiến tại hẻm D, đường N, khu phố Đ, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau khi nhận tiền thì bà H1 ký ghi rõ họ tên, ông L ký ghi rõ họ tên và lăn tay, bà Q làm chứng ký ghi rõ họ tên và lăn tay vào các Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023, Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023. Quá trình thực hiện giao dịch, bà H1 và ông L đã trả số tiền 50.000.000 đồng cho ông H theo Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023, Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023 vào ngày 19/6/2024 và lập văn bản cam kết sẽ trả số tiền còn lại là 770.000.000 đồng cho ông H chậm nhất ngày 30/8/2024. Quá trình tố tụng, bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào chứng cứ của nguyên đơn ông H cung cấp và lời khai của người làm chứng bà Q, có cơ sở xác định bà H1, ông L còn nợ ông H số tiền 770.000.000 đồng. Bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023 và Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023. Vì vậy, nguyên đơn ông Đoàn Mộng H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L phải trả lại số tiền 770.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023 và Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023 là có căn cứ để chấp nhận.
  2. Về lãi suất: Nguyên đơn ông Đoàn Mộng H không yêu cầu tính lãi, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L phải chịu án phí có giá ngạch do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 124, khoản 1 Điều 147, c khoản 1 Điều 217 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều: 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án,
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Mộng H đối với bị đơn bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

    Buộc bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L có nghĩa vụ trả lại cho ông Đoàn Mộng H số tiền 770.000.000 đồng theo Giấy mượn tiền ngày 02/8/2023 và Giấy mượn tiền ngày 30/8/2023.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Minh H1 và ông Dương Thế L phải chịu 34.800.000 đồng. Hoàn trả cho ông Đoàn Mộng H 21.409.500 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002798 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 232/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ông Đoàn Mộng H với bị đơn bà Lê Minh H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger