TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2024/HS-ST Ngày 28-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Nga
- Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 192/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 842/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn G, sinh năm 1982 tại Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C (đã chết) và bà Lý Thị T; có vợ là Nguyễn Thị A và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 23/5/2024; tạm giam ngày 31/5/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ ngày 23/5/2024, Công an phường N, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Phan Văn G tại khu vực đầu ngõ G N, N, Lê C1, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Quá trình bị tổ công tác kiểm tra, Gia thả từ lòng bàn tay trái xuống đất, cách chân trái của Gia khoảng 01 mét 01 túi nilon màu trắng, mép viền màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma túy). Tổ công tác đã thu giữ túi nilon, kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải của Gia 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “CRAVEN” và số tiền 240.000 sau đó đưa G cùng toàn bộ vật chứng về Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 624/KLGĐ-MT ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất bột màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Phan Văn G là ma túy, có khối lượng: 0,16 gam, là loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn G khai: khoảng 12 giờ ngày 23/5/2024, Gia bắt xe buýt đi từ C vào trung tâm thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, G đi đến khu vực đường T, quận L, Hải Phòng gặp và hỏi 01 người nam giới không quen biết chỗ mua ma túy. Người nam giới yêu cầu tiền công dẫn đi mua ma túy là 30.000 đồng, G đồng ý trả tiền. Người nam giới nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô (G không nhớ biển kiểm soát) chở G vào ngõ G N được khoảng 30 mét thì dừng lại và gọi “Béo ơi”. Lúc này, có một người nam giới khác (không rõ căn cước, lai lịch) đi từ trong 01 ngách đến gần. G đưa cho người nam giới đó 200.000 đồng. Người nam giới nhận tiền rồi đưa lại cho G 01 vỏ bao thuốc lá “Craven”. Gia mở vỏ bao thuốc lá ra xem thì thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy. Gia cầm túi nilon đựng ma túy ở lòng bàn tay trái còn vỏ bao thuốc lá cất vào trong túi quần phía trước bên phải. Khi đi đến khu vực đầu ngõ G N, G bị lực lượng Công an kiểm tra. Do hoảng sợ nên G làm rơi gói ma túy vừa mua được xuống đất cách vị trí chân trái khoảng 01 mét. Lực lượng Công an đã thu giữ gói ma túy và đưa G cùng vật chứng về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như nội dung nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 202/CT-VKSLC ngày 26/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phan Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với người nam giới dẫn Phan Văn G đi mua ma túy và người nam giới bán ma túy cho G, quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra, xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Văn G mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 624/MT-PC09 đựng vỏ bao gói và lượng ma túy còn lại sau giám định (là vật nhà nước cấm lưu hành); tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá CRAVEN (là vật không còn giá trị sử dụng); trả lại bị cáo số tiền 240.000 đồng thu giữ của bị cáo (không liên quan đến việc phạm tội).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào hồi 15 giờ ngày 23/5/2024 tại khu vực đầu ngõ G N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Phan Văn G có hành vi cất giữ trái phép 0,16 gam Heroine với mục đích để bản thân sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Phan Văn G theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Ngoài ra bị cáo đã có thời gian tham gia quân ngũ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 624/MT-PC09) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với vỏ bao thuốc lá CRAVEN xét là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[11] Đối với số tiền 240.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
[12] Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo bản án:
[13] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn G 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 624/MT-PC09).
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá CRAVEN.
Trả lại bị cáo số tiền 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo nhưng cần tạm giữ lại số tiền này để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân và Ủy nhiệm chi lập ngày 28/8/2024 tại Kho bạc Nhà nước L).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Văn G phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 232/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 232/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Gia
