|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2024/DS-PT
Ngày: 24/4/2024
V/v: “Tranh chấp thừa kế và chia
tài sản chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Tô Ngọc
Các thẩm phán:
Ông Vũ Ngọc Huynh
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Út - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 647/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế và chia tài sản chung”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 674/2024/QĐ- PT ngày 07 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị B – sinh năm: 1943 (có mặt). Địa chỉ: ấp H, xã T,
huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
- Anh Lê Văn C – sinh năm: 1978 ( có mặt).
- Anh Lê Văn T – sinh năm: 1985 (có mặt).
- Chị Lê Thị Ngọc Y – sinh năm: 1965 (có mặt). Địa chỉ: ấp H, xã T,
Cùng địa chỉ: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long .
huyện V, tỉnh Vĩnh Long .
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Minh H – sinh năm: 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Lê Thị Thu V – sinh năm: 1971 (có mặt).
- Chị Lê Thị H1 – sinh năm: 1981 (vắng mặt).
- Chị Lê Thị Thu H2 –sinh năm 1973 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1985 (vắng mặt).
- Chị Phan Thị Mỹ T2 – sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Hòa Hiệp, xã Trung Thành Tây, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: I Hent Ar C,H P, Pháp.
Địa chỉ: A, Vieille Route De Ros P Q, Pháp.
Người đại diện họp pháp của chị T1 là anh Lê Minh H– sinh năm: 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của chị D là anh Lê Văn T – sinh năm: 1985 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ: khóm B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 08/01/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị B trình bày: Bà Bùi Thị B và ông Lê Văn D1 là vợ chồng, bà B và ông D1 có tất cả 8 người con gồm: chị Lê Thị Ngọc Y; chị Lê Bích N (chết năm 1991) có chồng tên Phan Văn T3 và một người con tên Phan Thị Mỹ T2, chị Lê Thị Thu V, chị Lê Thị Thu H2, anh Lê Minh H, anh Lê Văn C, chị Lê Thị H1 và anh Lê Văn T.
Ngày 16/01/2023 ông D1 chết không để lại di chúc, trong quá trình chung sống bà B và ông D1 có tạo lập được khối tài sản chung gồm: Phần đất diện tích 2.580m² thuộc thửa 901 đất thổ quả; diện tích 300m² thuộc thửa 902 đất ao; diện tích 5.950m²thuộc thửa 918 đất lúa; diện tích 170m² thuộc thửa 919 đất quả, tổng cộng là 9.000m², đất có vị trí tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long theo đo đạc thực tế thửa đất 901+ 902 có diện tích 2.872,3m², trên đất có hai căn nhà của bà B, bà B quản lý một căn nhà, anh T và chị D quản lý một căn nhà, có một chuồng bò do anh T, chị D quản lý, có ba ngôi mộ của ông D1, chị N và một ngôi mộ lạ. Thửa đất số 919+ 918 diện tích 6.465m² do anh C, anh H cất nhà sinh sống và trồng lúa. Nguồn gốc các thửa đất nêu trên là của cha mẹ bà B cho bà B. Quá trình chung sống ông D1 đã kê khai đăng ký và được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/11/1993. Sau khi ông D1 chết thì bà B làm thủ tục thừa kế các thửa đất để sau này phân chia lại đất cho các con nhưng anh Lê Văn C, anh Lê Văn T và chị Lê Thị Ngọc Y không đồng ý nên phát sinh tranh chấp. Bà B yêu cầu Tòa án giải quyết chia cho bà B được hưởng ½ tài sản chung với ông D1 là 4.500 m² đất và một kỷ phần thừa kế của ông D1 là 562,5 m² đất, phần còn lại chia cho anh C, anh T, chị Y, chị H1, anh H, chị H2 và chị V mỗi người 562,5 m² đất .
Trong quá trình giải quyết vụ án bà B thay đổi yêu cầu khởi kiện bà B chỉ yêu cầu được nhận thửa đất 901+ 902 diện tích 2.872,3m² có gắn căn nhà, vật kiến trúc và cây trồng trên đất, yêu cầu anh T và chị D di dời căn nhà, chuồng bò ra khỏi phần đất diện tích 2.872,3m² để giao đất cho bà B, bà B tự nguyện hỗ trợ cho anh T, chị D giá trị nhà, chuồng bò và chi phí di dời là 100.000.000đồng. Bà B đồng ý chia cho anh T phần đất có diện tích 2.148,9m² thuộc tách thửa 918 + 919 nằm ở vị trí giữa phần đất của anh C và anh H đang quản lý có chiều ngang giáp đường đi là 10,95m, đồng ý chia cho anh C phần đất có diện tích 2.153m² thuộc tách thửa 918 + 919 có chiều ngang giáp đường đi là 11m, đồng ý chia cho anh H phần đất còn lại có diện tích 2.163m².
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn T trình bày: Anh T là con của ông D1 và bà B. Anh T thống nhất lời trình bày của bà B về việc ông D1 và bà B có tất cả 8 người con và tài sản chung của ông D1 và bà B, về nguồn gốc tài sản chung, ông D1 chết không để lại di chúc. Trước đây khi ông D1 còn sống đã nói chia cho anh H 2.000m² đất ruộng ngay vị trí anh H đang sử dụng, chia cho anh C 2.000m² đất ruộng ngay vị trí anh C đang sử dụng. Anh T là con út ở chung với bà B nên bà B hưởng cái gì thì anh T hưởng cái đó. Anh T không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà B. Trong trường hợp phải chia thừa kế thì anh T yêu cầu được nhận phần đất diện tích 1.400 m² thuộc tách thửa đất 901 + 902 có vị trí ngay căn nhà anh T đang sinh sống và 1.000m² đất ruộng thuộc tách thửa 918 + 919 có vị trí phía sau phần đất anh H đang sử dụng.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn C trình bày: Anh C là con của ông D1 và bà B. Trước đây khi ông D1 còn sống đã chia đất cho anh C ngay vị trí anh đang sử dụng theo sự chỉ anh của anh C có diện tích 647,1 m² thuộc tách thửa 918 + 919 chiều ngang thửa đất giáp đường đi là 16,95m và 1.000 m² nằm phía sau phần đất này, anh C đã cất nhà nhà sinh sống và trồng lúa, khi cho đất chỉ nói bằng miệng không có giấy tờ. Anh C không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà B.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị Ngọc Y trình bày: Chị Y là con của ông D1 và bà B, chị Y thống nhất lời trình bày của bà B về việc ông D1 và bà B có tất cả 8 người con và tài sản chung của ông D1 và bà B, về nguồn gốc tài sản chung, ông D1 chết không để lại di chúc. Chị Y không yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông D2, đối với kỷ phần thừa kế này chị Y tự nguyện tặng cho anh T. Chị Y không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà B.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh H trình bày: Anh H là con của ông D1 và bà B, anh H thống nhất lời trình bày của bà B về việc ông D1 và bà B có tất cả 8 người con và tài sản chung của ông D1 và bà B, nguồn gốc tài sản chung, ông D1 chết không để lại di chúc. Anh H đồng ý nhận phần đất có diện tích 2.163,1m² thuộc tách thửa 918 + 919 theo ý kiến của bà B, trên đất có căn nhà của anh H.
- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thu V trình bày: Chị V là con của ông D1 và bà B, chị V không yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông D1, đối với kỷ phần thừa kế chị V tự nguyện tặng cho bà B.
- Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thu H2 trình bày: Chị H2 là con của ông D1 và bà B, chị H2 không yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông D2, đối với kỷ phần thừa kế chị H2 tự nguyện tặng cho bà B.
- Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị H1 trình bày: Chị H1 là con của ông D1 và bà B, chị H1 không yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông D1, đối với kỷ phần thừa kế chị H1 tự nguyện tặng cho bà B.
- Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Mỹ T2 trình bày : Chị T2 là cháu của ông D1 và bà B, chị T2 không yêu cầu chia thừa kế phần di sản của ông D1, đối với kỷ phần thừa kế chị T2 tự nguyện tặng cho bà B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng D do anh Trung đại d thống nhất lời trình bày của anh T, không ý kiến gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T1 do anh H đại diện thống nhất lời trình bày của anh H, không ý kiến gì khác.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DSST ngày 23-6-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long quyết định:
Áp dụng Điều 219; 649; 650; 651; 652; khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự 2015; Điều 25 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; Điều 147, 157, 161; 165, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị B.
- Buộc anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Hồng D có nghĩa vụ giao bà Bùi Thị B được quyền sử dụng hợp pháp phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 2.872,3m² thuộc thửa đất 901 + 902, tờ bản đồ số 1, loại đất thổ, đất ao và đất trồng cây lâu năm ( trong đó có 300 m² đất thổ, 300 m² đất ao và 2.272,3m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có vị trí theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 28/09/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
- Bà Bùi Thị B được quyền sở hữu hợp pháp toàn bộ tài sản gắn liền với đất bao gồm: một căn nhà cột gỗ, cột bê tông cốt thép, nền gạch tàu, vách tường, mái tol + ngói, hàng rào trụ bê tông cốt thép xây tường lửng, chuồng bò và toàn bộ cây trồng trên phần đất diện tích 2.872,3m² thuộc thửa đất 901 + 902, tờ bản đồ số 1, loại đất thổ, đất ao và đất trồng cây lâu năm ( trong đó có 300 m² đất thổ, 300 m² đất ao và 2.272,3m² đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Buộc anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Hồng D có nghĩa vụ di dời tài sản ra khỏi phần đất diện tích 2.872,3m² thuộc thửa đất 901+ 902 để giao bà Bùi Thị B được quyền sử dụng hợp pháp phần đất 2.872,3m² thuộc thửa đất 901+ 902, loại đất thổ, đất ao và đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bà Bùi Thị B có nghĩa vụ trả giá trị tài sản bao gồm: một căn nhà cột gỗ, cột bê tông cốt thép, nền gạch tàu, vách tường, mái tol + ngói, hàng rào trụ bê tông cốt thép xây tường lửng, chuồng bò và hỗ trợ chi phí di dời cho anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Hồng D số tiền 100.000.000đ ( một trăm triệu đồng) .
- Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Hồng D được quyền lưu cư trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Bà Bùi Thị B, anh Lê Văn C và anh Lê Minh H có nghĩa vụ giao cho anh Lê Văn T được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 2.148,9m² và toàn bộ cây trồng trên phần đất 2.148,9m² trong đó có 421,2m² thuộc tách thửa 918-3 + tách thửa 919-3 và 1.727,7m² thuộc tách thửa 918-5, loại đất lúa và đất trồng cây lâu năm ( trong đó có 56m² đất trồng cây lâu năm và 2.092,9 m² đất lúa ), tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có vị trí theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 14/12/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V, tỉnh Vĩnh Long và Sơ đồ thửa đất ngày 11/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V.
- Anh Lê Văn C được quyền sử dụng hợp pháp phần đất diện tích 2.153m² và toàn bộ cây trồng trên phần đất 2.153m² trong đó có 420,3m² thuộc tách thửa 918-1 + tách thửa 919-1 và 1.732,7m² thuộc tách thửa 918-4 loại đất lúa và đất trồng cây lâu năm ( trong đó có 56m² đất trồng cây lâu năm và 2.097m ² đất lúa), tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có vị trí theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 14/12/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V, tỉnh Vĩnh Long và Sơ đồ thửa đất ngày 11/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V.
- Anh Lê Minh H được quyền sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích 2.163,1m² và toàn bộ cây trồng trên phần đất 2.163,1m² trong đó có 528,1m² thuộc tách thửa 918-2 + tách thửa 919-2 và 1.635m² thuộc tách thửa 918-6 loại đất lúa và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 57m² đất trồng cây lâu năm và 2.106m² đất lúa), tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long do ông Lê Văn D1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất có vị trí theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 12/12/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V, tỉnh Vĩnh Long và Sơ đồ thửa đất ngày 11/5/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V.
Bà Bùi Thị B, anh Lê Văn T, anh Lê Văn C và anh Lê Minh H có quyền và nghĩa vụ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật.
- Về chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản:
- Bà Bùi Thị B phải nộp 4.000.000đ ( bốn triệu đồng) chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản, được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng. Bà Bùi Thị B đã nộp xong .
- Anh Lê Văn T phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng) chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản để hoàn trả lại bà Bùi Thị B nhận.
- Anh Lê Văn C phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng) chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản để hoàn trả lại bà Bùi Thị B nhận.
- Anh Lê Minh H phải nộp 2.000.000đ (hai triệu đồng) chi phí khảo sát đo đạc và định giá tài sản để hoàn trả lại bà Bùi Thị B nhận.
- Về án phí
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Bùi Thị B không phải nộp án phí sơ thẩm.
- Anh Lê Văn T phải nộp án phí sơ thẩm là 8.931.600đ (tám triệu chín trăm ba mươi mốt ngàn sáu trăm đồng).
- Anh Lê Văn C phải nộp án phí sơ thẩm là 8.948.000đ (tám triệu chín trăm bốn mươi tám ngàn đồng).
- Anh Lê Minh H phải nộp án phí sơ thẩm là 8.994.400đ (tám triệu chín trăm chín mươi bốn ngàn bốn trăm đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Lê Văn C phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000491 ngày 10-7-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Lê Văn T phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000490 ngày 07-7-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Vũ Ngọc Huynh Phan Nhựt Bình |
Phan Tô Ngọc |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tối cao;
- - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
- - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long;
- - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
- - Cục THADS tỉnh Vĩnh Long;
- - Các đương sự (2);
- - Lưu, 7 VP, 01 HS (DTTP 18)
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Bản án số 232/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế và chia tài sản chung
- Số bản án: 232/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế và chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
