TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2023/HS-ST Ngày: 22-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim
Ông Dương Văn Toản
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Ánh – Thư ký TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND huyện Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Văn L – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2023/TLST-HS ngày 28/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2023/QĐXXST–HS ngày 08/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ma Văn Đ, sinh năm 1993; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ma Văn Đ1 và bà Vi Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B – có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại
- Chị Triệu Thị T - sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Minh H1 – sinh năm 2001 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ 11, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Anh Vũ Văn N – sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ma Văn Đ- sinh năm 1993, trú tại xóm H, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; mới đến thuê trọ tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V là công nhân sản xuất tại xưởng B2 của Công ty TNHH L1 (gọi tắt Công ty L1) thuộc Khu Công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 25/7/2023, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, biển kiểm soát 20C1- 233.96 đi từ phòng trọ đến gửi xe tại Nhà để xe của Công ty; Đ đi đến khu vực để tủ đồ cá nhân của công nhân tại tầng 1, xưởng B2 để cất đồ cá nhân. Lúc này, Đ phát hiện thấy tủ đồ cá nhân số hiệu C096 của chị Triệu Thị T- sinh năm 1998, trú tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vẫn móc ổ khóa dạng khóa số nhưng không bấm khóa nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát xung quanh thấy không có người qua lại nên Đ dùng tay phải tháo ổ khóa tại ngăn tủ đồ số hiệu C096 và mở ngăn tủ đồ ra tìm tài sản phát hiện bên trong tủ đồ của chị T có để 01 túi xách màu đen có khóa kéo. Đ dùng tay phải kéo khóa chiếc túi xách ra kiểm tra thì phát hiện bên trong túi có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 512GB, gắn ốp lưng bằng nhựa màu trắng. Đ dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đóng cửa tủ lại. Sau khi lấy được điện thoại, Đ đi ra khu vực nhà để xe của công ty cất giấu chiếc điện thoại trộm cắp được của chị T vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 20C1- 233.96 rồi lấy xe mô tô đi về phòng trọ. Khi đi đến khu vực hồ nước (gần phòng trọ của Đ) tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V thì Đ dừng lại. Tại đây, Đ tháo chiếc sim điện thoại và chiếc ốp lưng bằng nhựa màu trắng lắp ở điện thoại của chị T ra ném xuống hồ. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô mang chiếc điện thoại di động chiếm đoạt được về phòng trọ cất giấu.
Khoảng 10 giờ ngày 31/7/2023, Đ điều khiển xe mô tô mang chiếc điện thoại di động chiếm đoạt được của chị T đến cửa hàng mua bán điện thoại di động “Minh Hiếu M” ở tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang do anh Đỗ Minh H1- sinh năm 2001, trú tại tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai làm chủ, bán chiếc điện thoại cho anh H1 được 1.800.000 đồng. Sau khi mua được chiếc điện thoại của Đ thì anh H1 đã tháo điện thoại ra lấy linh kiện để thay thế linh điện cho những người không quen biết có điện thoại bị hỏng đến cửa hàng của anh để sửa chữa; còn chiếc xe mô tô 20C1- 233.96, Đ đã mang đến cửa hàng cầm đồ “Vũ Nhân 2” ở thôn V, xã V, huyện V cầm cố cho anh Vũ Văn N- sinh năm 1966, trú tại xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định được số tiền 5.000.000. Số tiền bán điện thoại, cầm cố xe mô tô Đ đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 22/9/2023, chị Triệu Thị T làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngày 23/9/2023, Ma Văn Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị T vào ngày 25/7/2023. Cơ quan điều tra tiến hành cho Đ xác định hiện trường nơi đã trộm cắp. Kết quả Đ xác định đúng tủ đồ cá nhân số C096 tại khu vực tầng 1, xường B2.
Ngày 23/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất hình ảnh dữ liệu camera tại khu vực tủ để đồ cá nhân của công nhân tại tầng 01 xưởng B2 của Công ty L1, thu giữ hình 01 đoạn video clip ghi lại sự việc Ma Văn Đ có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại di động của chị Triệu Thị T. Cơ quan điều tra cho Đ xem lại hình video clip, khẳng định người thanh niên mở tủ đồ, trộm cắp điện thoại trong video clip chính là Ma Văn Đ; tiến hành cho Đ xác định vị trí đã vứt chiếc sim điện thoại, ốp lưng nhựa điện thoại màu trắng của chị T, Đ đã xác định được vị trí vứt sim, ốp nhựa tại khu vực hồ nước thuộc tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả. Tiến hành cho Đ xác định vị trí cửa hàng bán chiếc điện thoại chiếm đoạt được của chị T, Đ xác định vị trí được của hàng mua bán điện thoại Minh Hiếu M tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V; quá trình làm việc anh H1 xác định đúng Đ là người bán điện thoại cho anh H1 vào ngày 31/7/2023.
Cùng ngày 23/9/2023, anh Vũ Văn N là người nhận cầm cố chiếc xe mô tô 20C1- 233.96 của Ma Văn Đ; sau khi biết chiếc xe trên Đ dùng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên anh N đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Ngày 24/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, dung lượng 512GB; 01 phôi sim điện thoại; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 173/KL- HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 512GB, có giá trị 11.000.000 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng, có giá trị 20.000 đồng; 01 phôi sim điện thoại, có giá trị 30.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 211/CT-VKS ngày 23/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố Ma Văn Đạo ra trước Toà án nhân dân huyện Việt Yên để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Ma Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo xác định bị cáo sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biên kiểm soát 20C1 – 233.96 làm phương tiện đi lại đến Công ty làm việc, không có mục đích sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản, khi thấy tủ để đồ của bị hại có sơ sở, bị cáo kiểm tra thấy có tài sản nên mới nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo đề nghị cho bị cáo xin lại chiếc xe mô tô để làm phương tiện đi lại,
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Ma Văn Đ từ 09 tháng đến 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 23/9/2023.
- Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại bị cáo 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát 20C1- 233.96, nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Triệu Thị T số tiền 11.050.000 đồng, hoàn trả anh Vũ Văn N số tiền 5.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 802.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 25/7/2023, tại tủ để đồ cá nhân C096, tầng 01, xưởng B2 của Công ty L1 thuộc Khu Công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Ma Văn Đ đã có hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 11.050.000 đồng, bao gồm: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 512GB có giá trị 11.000.000 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng có giá trị 20.000 đồng và 01 phôi sim điện thoại có giá trị 30.000 đồng của chị Triệu Thị T- sinh năm 1998, trú tại thôn N, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại lén lút trộm cắp tài sản có giá trị 11.050.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo Ma Văn Đ đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Do vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là hoàn toàn có căn cứ.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xử lý hành chính và hình sự lần nào.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô 20C1- 233.96 là tài sản hợp pháp của Ma Văn Đ không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng được giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[9] Về trách nhiệm dân sự: chị Triệu Thị T yêu cầu Đ bồi thường số tiền 11.050.000 đồng; anh Vũ Văn N yêu cầu Đ phải hoàn trả số tiền 5.000.000 đồng, xét yêu cầu bồi thường của chị T và anh N là có căn cứ. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Ma Văn Đ bồi thường chị Triệu Thị T số tiền 11.050.000 đồng, hoàn trả anh Vũ Văn N số tiền 5.000.000 đồng.
[10] Đối với anh Đỗ Minh H1, anh Vũ Văn N là những người mua chiếc điện thoại, nhận cầm cố xe mô tô của Đ; quá trình điều tra xác định khi mua điện thoại anh H1 không biết là tài sản do phạm tội mà có, khi nhận cầm cố xe anh N không biết chiếc xe trên dùng làm phương tiện phạm tội nên anh H1, anh N không vi phạm pháp luật.
[11] Bị cáo hiện đang tạm giam, căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[12] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là có căn cứ.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ma Văn Đ 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/9/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại bị cáo: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát 20C1- 233.96, nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 579, Điều 580, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo Ma Văn Đ phải bồi thường cho chị Triệu Thị T số tiền 11.050.000 đồng (Mười một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng chẵn); hoàn trả ông Vũ Văn N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 802.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015
Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Tuyết |
Bản án số 232/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 232/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Văn D phạm tội trộm cắp tài sản
