TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Thúy Hảo
2. Bà Văn Thị Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 350/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 206/2024/QĐST – DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ: I P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Ông Lee Yun H, chức vụ Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật; Công ty L2 là đại diện theo ủy quyền; ông Nguyễn Đức T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024). (có mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thùy L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: A X, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/05/2024 và các lần làm việc tại Tòa, người đại diện hợp pháp của Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) trình bày:
Ngày 19/09/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) ký hợp đồng tín dụng số 3635211(sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thùy L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng chẵn), trong đó bao gồm 3.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 44%/năm.
Sau khi ký kết Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Nguyễn Thùy L. Theo Hợp đồng tín dụng, Bà Nguyễn Thùy L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.775.113 đồng trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/03/2025.
Qua quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Nguyễn Thùy L đã thanh toán được 07 kỳ với tổng số tiền 12.536.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn đồng chẵn). Tuy nhiên, từ ngày 22/04/2023, bà Nguyền Thùy L1 đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ Hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà Nguyễn Thùy L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo Hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng tìm cách đến gặp trực tiếp bà Nguyễn Thùy L để thông báo cho bà Nguyễn Thùy L biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thùy L vẫn không có bất kì hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho phía Công ty T1.
Tính đến ngày 03/05/2024 bà Nguyễn Thùy L đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 27.042.087 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 9.787.052 đồng.
- Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 3.590.927 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 539.186 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 03/05/2024 tổng số tiền bà Nguyễn Thùy L phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi, phí) tạm tính là 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng).
Nay do bà Nguyễn Thùy L đã không thanh toán đúng hạn theo quy định của Hợp đồng tín dụng đã ký kết đồng thời vi phạm nghĩa vụ của mình đối với Công ty T1.
+ Buộc bà Nguyễn Thùy L phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T1 với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi phí) tạm tính đến ngày 03/05/2024 là 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng). Đồng thời thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 04/05/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.
Bị đơn – bà Nguyễn Thùy L đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ giấy triệu tập, các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 đối với bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện bà Nguyễn Thùy L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ văn bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tại Công an Phường T thì bà L không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ A X, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bà L đã chuyển đi từ năm 2021, không xác định được nơi ở hiện nay. Tại đơn khởi kiện, Công ty T1 đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bà L theo địa chỉ đăng ký thường trú được ghi trong Hợp đồng tín dụng nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người bị kiện”. Trong vụ án này, bà L thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng mà không thông báo cho Công ty T1 biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định nên được coi là cố tình giấu địa chỉ nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ, đúng pháp luật, xác định địa chỉ của bà L là A X, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa thì thấy: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết giấy báo hợp lệ yêu cầu đến Tòa để giải quyết vụ án, hòa giải, xét xử, tuy nhiên vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, bị đơn không có yêu cầu phản tố; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thùy L phải thanh toán số tiền 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 19/09/2022, Công ty T1 (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty T1) ký hợp đồng tín dụng số 3635211 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thùy L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng chẵn), trong đó bao gồm 3.000.000 đồng tiền vay và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay với lãi suất 44%/năm; bà Nguyễn Thùy L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.775.113 đồng trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 15/10/2022 đến ngày 15/03/2025. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng đã ký phù hợp với các quy định tại các Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự và phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.
Theo bảng tóm tắt sao kê do Công ty T1 cung cấp thì bà L đã thanh toán 07 kỳ với tổng số tiền 12.536.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn đồng chẵn). Tuy nhiên, từ ngày 22/04/2023, bà Nguyền Thùy L1 đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ Hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân. Tính đến ngày 03/05/2024, bà Nguyễn Thùy L đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau:
- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 27.042.087 đồng.
- Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 9.787.052 đồng.
- Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 3.590.927 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 539.186 đồng.
Như vậy, tính đến ngày 03/05/2024 tổng số tiền bà Nguyễn Thùy L phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi, phí) tạm tính là 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và triệu tập bị đơn đến làm việc liên quan đến việc ký kết hợp đồng và thanh toán nợ tuy nhiên bị đơn vẫn vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong vụ án để giải quyết. Như vậy, có căn cứ xác định bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình. Nay Công ty T1 yêu cầu bà L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng) là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 đối với bà Nguyễn Thùy L; buộc bà L phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng), trong đó gồm 27.042.087 đồng tiền nợ gốc; 9.787.052 đồng tiền lãi trong hạn; 3.590.927 đồng tiền lãi quá hạn và 539.186 đồng tiền lãi phạt.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc bà L phải trả khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 04/5/2024 đến khi thanh toán hết nợ:
Yêu cầu này của Công ty T1 là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, bà L phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) đối với bà Nguyễn Thùy L.
Buộc bà Nguyễn Thùy L phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền số tiền 40.959.252 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm năm mươi chín ngàn hai trăm năm mươi hai đồng), trong đó gồm 27.042.087 đồng tiền nợ gốc; 9.787.052 đồng tiền lãi trong hạn; 3.590.927 đồng tiền lãi quá hạn và 539.186 đồng tiền lãi phạt.
Kể từ ngày 04/5/2024, bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thùy L phải nộp 2.047.000 đồng.
H1 lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000153 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Lợi |
Bản án số 232/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 232/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
