Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 232/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chương.

Ông Lù Văn Lả.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 226/2024/TLST- HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Văn K; sinh năm: 1957, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1 (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị M; sinh năm 1954. Bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 02/12/1997 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, đến ngày 22/6/1999 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Ngày 15/11/2011 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 20/9/2013 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Ngày 29/09/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 21/02/2022 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Tất cả các bản án trên Bị cáo đã được xoá án tích nhưng Bị cáo có nhân thân xấu.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 29/6/2024 Dương Văn K đi bộ một minh tử nhà tại Thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên mục đích di tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đi Bị cáo mang theo số tiền 50.000 đồng, đến Bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Tại đây Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 20 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ). Bị cáo có hỏi người đàn ông đó “Có Heroine bán không?" người đàn ông trả lời “có đưa tiền đây", nghe vậy Bị cáo lấy số tiền 50.000 đồng từ trong người ra đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông đó cầm tiền rồi đưa lại cho Bị cáo 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa hàn kín bên trong là H. Bị cáo cầm gói Heroine bằng tay trái đi bộ về nhà. Khi Bị cáo đi được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an xã T, huyện Đ phối hợp với Công an xã T, huyện Đ và Công an xã T, huyện Đ phát hiện thu giữ tại tay trái Bị cáo đang cầm 01 gói Heroine, ngoài ra gì thêm.

Ngày 29/6/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Dương Văn K như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,2 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 1168/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Dương Văn K giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,12 gam.

Tại bản cáo trạng số: 166/CT-VKSHĐB ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Dương Văn K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu hồng là vật không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho Bị cáo do Bị cáo là người cao tuổi, gia đình Bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn K khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ 40 phút ngày 29/6/2024 tại khu vực Bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,2 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Thái Bình, đi học đến lớp 3/10 thì nghỉ học ở nhà giúp đỡ gia đình. Năm 1978 Bị cáo kết hôn với bà Nguyễn Thị M; sinh năm 1954. Bị cáo có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1991.Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 02/12/1997 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”, đến ngày 22/6/1999 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Ngày 15/11/2011 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 20/9/2013 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Ngày 29/09/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 21/02/2022 Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống. Tất cả các bản án trên Bị cáo đã được xoá án tích nhưng Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1996 cho đến ngày bị bắt.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị M được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án gồm:

0,12 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu hồng là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 20 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Tại phiên tòa Bị cáo xin HĐXX xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo là người cao tuổi, gia đình Bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương. Theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 01 năm 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/6/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

* Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu hồng là vật không còn giá trị sử dụng

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHDB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HDB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 232/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 01 năm 07 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger