Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12 – 6 – 2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
  2. Bà Nguyễn Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 123/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 312/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số E, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Lý T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số nhà H, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T vắng mặt, cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T do mai mối nên quen biết, sau đó được gia đình đồng ý cho tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn vào năm 2013 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130, quyển số I/2013 ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, tỉnh An Giang). Quá trình chung sống, bà H và ông T chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc. Gia đình hai bên đã động viên, hòa giải cho cả hai nhưng bà H và ông T vẫn chung sống không hạnh phúc. Đến năm 2023 thì bà H và ông T sống ly thân nhau cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.

Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T thống nhất quá trình chung sống có ba con chung tên: Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 04/3/2011; Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 29/10/2019. Cả ba con chung hiện đang sống cùng với ông T. Bà H và ông T thống nhất ông T được tiếp tục nuôi dạy ba con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Nguyễn Lý T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 02/5/2024 nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự.

Ngày 02/5/2024, bà Phạm Thị Ngọc H có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa. Ông Nguyễn Lý T cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt vào ngày 20/5/2024.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Phạm Thị Ngọc H giao nộp: Giấy chứng nhận kết hôn số 130, quyển số I/2013 ngày 06/9/2013 (bản photo); Trích lục khai sinh Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 04/3/2011, Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 29/10/2019 (bản sao); Căn cước công dân mang tên Phạm Thị Ngọc H (bản photo); Đơn yêu cầu ngày 02/5/2024 (bản chính).

Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Lý T giao nộp: Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 20/5/2024 (bản chính).

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai người làm chứng và biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Lý T cùng ngày 20/5/2024.

Tại phiên tòa, do bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 20/5/2024, bà Huỳnh Thị Tuyết M1 cho biết: Bà M1 là mẹ ruột của ông Nguyễn Lý T. Bà M1 thống nhất với lời trình bày của ông T và bà H về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân, nguyên nhân và thời gian phát sinh mâu thuẫn cũng như về con chung. Bà M1 yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho bà H và ông T ly hôn. Bà M1 yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập do bận buôn bán.

Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên, cháu Nguyễn Thị Thảo M có nguyện vọng sống cùng ông T sau khi bà H và ông T ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc H; về con chung, đề nghị giao con chung tên Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 04/3/2011; Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 29/10/2019 cho ông T được trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung; về tài sản chung và nợ chung, bà H và ông T khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, ông T không phải chịu án phí.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Phạm Thị Ngọc H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Lý T cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Lý T có nơi thường trú tại: Số nhà H, ấp Q, xã Q, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T do mai mối nên quen biết và tiến đến hôn nhân vào năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130, quyển số I/2013 ngày 06 tháng 9 năm 2013. Quá trình chung sống, bà H và ông T chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc. Gia đình hai bên đã động viên, hòa giải cho cả hai nhưng bà H và ông T vẫn chung sống không hạnh phúc. Đến năm 2023 thì bà H và ông T sống ly thân nhau cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Bà H yêu cầu được ly hôn với ông T và ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T thống nhất quá trình chung sống có ba con chung tên: Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 04/3/2011; Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 29/10/2019. Cả ba con chung hiện đang sống cùng với ông T.

Sau khi xem xét nguyện vọng của con chung và yêu cầu của các đương sự, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông T được tiếp tục nuôi dạy ba con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà H và ông T về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà H và ông T vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc bà H không cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà H và ông T về việc bà H không phải cấp dưỡng để nuôi con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà Phạm Thị Ngọc H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Nguyễn Lý T. Ngược lại, ông Nguyễn Lý T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị Ngọc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông Nguyễn Lý T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 53; các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Lý T.
  2. Về con chung: Ông Nguyễn Lý T được trực tiếp nuôi dạy ba con chung tên: Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 04/3/2011; Nguyễn Đăng K, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 29/10/2019. Bà Phạm Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng để nuôi con chung.

    Bà Phạm Thị Ngọc H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Nguyễn Lý T. Ngược lại, ông Nguyễn Lý T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị Ngọc H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009394 ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

    Ông Nguyễn Lý T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Phạm Thị Ngọc H và ông Nguyễn Lý T. Bà H và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Quốc Thái,
  • huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 232/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền và ông Nguyễn Lý Trung do mai mối nên quen biết, sau đó được gia đình đồng ý cho tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2010 và có đăng ký kết hôn vào năm 2013 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130, quyển số I/2013 ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang). Quá trình chung sống, bà Huyền và ông Trung chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc. Gia đình hai bên đã động viên, hòa giải cho cả hai nhưng bà Huyền và ông Trung vẫn chung sống không hạnh phúc. Đến năm 2023 thì bà Huyền và ông Trung sống ly thân nhau cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Huyền yêu cầu được ly hôn với ông Trung. Ông Trung đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Huyền. Về con chung: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền và ông Nguyễn Lý Trung thống nhất quá trình chung sống có ba con chung tên: Nguyễn Thị Thảo My, sinh ngày 04/3/2011; Nguyễn Đăng Khôi, sinh ngày 29/10/2019 và Nguyễn Minh Khôi, sinh ngày 29/10/2019. Cả ba con chung hiện đang sống cùng với ông Trung. Bà Huyền và ông Trung thống nhất ông Trung được tiếp tục nuôi dạy ba con chung, bà Huyền không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Ngọc Huyền và ông Nguyễn Lý Trung thống nhất khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger