Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 232/2024/KDTM-ST

Ngày: 10-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phạm Thị Phương Dung;
  2. Bà Đỗ Thị Trúc Ly

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 81/2024/TLST-KDTM ngày 07/5/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12724/2024/QĐXXST-KDTM ngày 22/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15380/2024/QĐST-KDTM ngày 16/8/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V;

Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, Tp ..

Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Gia Đ, sinh năm 2000 (Có mặt);
  2. Ông Tôn Thất T, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

(Đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số 1311/2024/UQ-PGĐ ngày 22/02/2024). Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng A, I C, Phường D, Quận C, Tp ..

- Bị đơn: Công ty TNHH S;

Địa chỉ: 2 L, phường B, Quận A, Tp ..

Người đại diện hợp pháp của Bị đơn: Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 1985 (Có mặt) (Đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số: 15/GUQ-TOPPAINT ngày 01/8/2024). Địa chỉ liên hệ: L1, G A Đ, Phường B, quận B, Tp ..

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Anh Đ1, sinh năm 1983 (Có mặt).

Địa chỉ: 3 A, Phường D, Quận E, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, tại các bản khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, ông Lê Gia Đ là Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V trình bày:

Ngày 11/5/2023, Ngân hàng TMCP V - chi nhánh C (được gọi tắt là Nguyên đơn) ký Hợp đồng cho vay số ECH/23012 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) với Công ty TNHH S (được gọi tắt là Bị đơn) cho Bị đơn vay tổng số tiền 3.000.000.000 đồng trong thời hạn 12 tháng để bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất sơn.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Nguyên đơn đã giải ngân vào tài khoản của bên thứ ba theo yêu cầu của Bị đơn cho Bị đơn vay tổng số tiền 3.000.000 đồng. Bị đơn đã thanh toán số tiền nợ của những lần giải ngân trước đây. Còn lại số tiền nợ của các khế ước nhận nợ sau:

  1. Khế ước nhận nợ số: 110523-3672964-ONL-34 ngày 12/5/2023; Số tiền vay: 867.570.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 19.5%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng.
  2. Khế ước nhận nợ số: 120523-3672964-ONL-35 ngày 12/5/2023; Số tiền vay: 674.991.020 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là Tại thời điểm giải ngân: 19.5%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng.
  3. Khế ước nhận nợ số: 120523-3672964-ONL-36 ngày 12/5/2023; Số tiền vay: 599.991.084 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là Tại thời điểm giải ngân: 19.5%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng.

Ngày 12/5/2023, Nguyên đơn đã giải ngân các khoản vay theo ba khế ước nhận nợ nêu trên và chuyển khoản vào tài khoản thụ hưởng theo yêu cầu của Bị đơn là: Công TNHH Một Thành Viên Sản xuất Thương Mại Dịch vụ H. Tài khoản số: [...] tại Ngân hàng TMCP Á (A) – Chi nhánh C1.

  1. Khế ước nhận nợ số: 240523-3672964-ONL-37 ngày 24/5/2023; Số tiền vay: 429.138.559 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là Tại thời điểm giải ngân: 19.4%/năm, điều chỉnh định kỳ 01 lần/tháng.

Ngày 24/5/2023, Nguyên đơn đã giải ngân khoản vay và chuyển khoản vào tài khoản thụ hưởng theo yêu cầu của Bị đơn là: Công ty TNHH T1. Tài khoản số: 0041146889999 mở tại Ngân hàng TMCP Q (M) – Chi nhánh Đ2.

Lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 12/06/2023. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên ngân hàng do Hội sở chính của Bên ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn 06 tháng và ký điều chỉnh lãi suất là 1 tháng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 10.50%/năm.

Lãi cho vay trong hạn đối với khoản cấp tín dụng cho Công ty TNHH S đã được điều chỉnh vào các kỳ như sau: Ngày 12/06/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 19.30%/năm; Ngày 12/07/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 19.20%/năm; Ngày 12/08/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 18.60%/năm; Ngày 12/09/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 17.80%/năm; Ngày 12/10/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 17.70%/năm và giữ cố định mức lãi suất này cho đến nay.

Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Toàn bộ nghĩa vụ thanh toán (nợ gốc, nợ lãi, phí, phạt, bồi thường thiệt hại, các khoản phải hoàn trả và nghĩa vụ tài chính khác) của Bị đơn theo Hợp đồng tín dụng được bảo đảm vô điều kiện, không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Nguyễn Thị Anh Đ1 theo Hợp đồng bảo lãnh số ECH/23012/HDBL ngày 11/5/2023.

Theo thỏa thuận tại các khế ước nhận nợ thì Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc một lần vào cuối kỳ trả nợ. Tính đến ngày 10/9/2024, Bị đơn chỉ thanh toán cho Nguyên đơn số tiền 165 đồng tiền nợ gốc và 192.343.069 đồng nợ lãi.

Do đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Buộc Bị đơn thanh toán ngay một lần cho Nguyên đơn tổng số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số ECH/23012 ngày 11/5/2023 và các Khế ước nhận nợ nêu trên tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 3.194.810.297 đồng. Trong đó nợ gốc là 2.571.690.498 đồng; Nợ lãi trong hạn là 39.853.765 đồng; Nợ lãi quá hạn là 579.881.194 đồng; Nợ lãi chậm trả là 3.384.840 đồng;
  • Ngoài ra, kể từ ngày 11/9/2024 Bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các khế nước nhận nợ nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Nguyên đơn.
  • Trường hợp Bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ, Nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ1 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản nợ nêu trên theo Hợp đồng bảo lãnh số ECH/23012/HDBL ngày 11/5/2023.

* Tại phiên tòa, ông Nguyễn Duy L là đại diện hợp pháp của Bị đơn - Công ty TNHH S trình bày:

Bị đơn xác nhận có ký với Ngân hàng TMCP V - chi nhánh C2 cho vay số ECH/23012 ngày 11/5/2023 và các khế ước nhận nợ như Nguyên đơn trình bày. Bị đơn đã nhận đủ các khoản tiền giải ngân. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Bị đơn đã thanh toán cho Nguyên đơn 165 đồng tiền nợ gốc và 192.343.069 đồng nợ lãi. Do gặp khó khăn trong kinh doanh vì ảnh hưởng của Dịch Covid 19 và khủng hoảng kinh tế sau đó nên Bị đơn không thể tiếp tục trả nợ được cho Nguyên đơn theo thỏa thuận.

Bị đơn xác nhận tính đến ngày 10/9/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền là 3.194.810.297 đồng. Trong đó nợ gốc là 2.571.690.498 đồng; Nợ lãi trong hạn là 39.853.765 đồng; Nợ lãi quá hạn là 579.881.194 đồng; Nợ lãi chậm trả là 3.384.840 đồng.

Bị đơn đồng ý trả nợ gốc cho Nguyên đơn nhưng hiện nay Bị đơn không có khả năng trả như yêu cầu của Nguyên đơn. Bị đơn xin thêm thời gian để khôi phục hoạt động của công ty, đến khi công ty hoạt động trở lại thì Bị đơn sẽ trả nợ cho Nguyên đơn. Bị đơn xin được miễn các khoản nợ lãi.

Đối với yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Trước đây bà Nguyễn Thị Anh Đ1 là người đại diện theo pháp luật và là kế toán của Công ty TNHH S. Việc ký bảo lãnh là do Ngân hàng yêu cầu, để tạo điều kiện để công ty hoàn thiện hồ sơ vay tại Ngân hàng nên bà đã ký tên vào giấy bảo lãnh, hiện nay công ty không còn hoạt động, bà đã nghỉ việc nên không còn liên quan gì đến công ty nữa. Vì vậy đề nghị Tòa án hủy bỏ tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà Đ1 và bà Đ1 không phải chịu trách nhiệm bảo lãnh cho công ty với Ngân hàng.

* Tại phiên tòa, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Anh Đ1 trình bày:

Trước đây bà là người đại diện theo pháp luật và là kế toán của Công ty TNHH S. Hiện nay bà đã đã nghỉ việc nên không còn liên quan gì đến công ty nữa. Bà đang gặp khó khăn về kinh tế không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với Nguyên đơn. Vì vậy, bà đề nghị Nguyên đơn hỗ trợ chuyển nghĩa vụ bảo lãnh sang cho người đại diện pháp luật mới của Công ty TNHH S và Tòa án xem xét hủy bỏ tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà trong vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Tp . phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 không có kiến nghị gì về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở chấp nhận toán bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán công nợ gốc còn thiếu và lãi theo yêu cầu của Nguyên đơn. Trường hợp Bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện việc thanh toán nợ theo hợp đồng bảo lãnh đã ký kết. Không có cơ sở chấp nhận đề nghị của Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc gia hạn thời gian thanh toán nợ, miễn tiền lãi và thay đổi tư cách người bảo lãnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi là tranh chấp phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng của Nguyên đơn, giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều vì mục đích lợi nhuận nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[1.2] Việc ủy quyền tham gia tố tụng:

Xét, Giấy ủy quyền số 1311/2024/UQ-PGĐ ngày 22/2/2024 của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V ủy quyền cho ông Lê Gia Đ thay mặt Nguyên đơn tham gia tố tụng để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên ông Đ có đủ tư cách đại diện Nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

Xét, Giấy ủy quyền ngày 01/8/2024 của Bị đơn - Công ty TNHH S ủy quyền cho ông Nguyễn Duy L thay mặt Bị đơn tham gia tố tụng để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự là phù hợp với quy định tại Điều 85, Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên ông L có đủ tư cách đại diện Bị đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

[2] Về pháp luật nội dung:

[2.1] Về hiệu lực của hợp đồng tín dụng:

Xét, ngày 11/5/2023, Nguyên đơn và Bị đơn ký Thỏa thuận sử dụng hệ thống tự động trong lập, gửi, giao kết hồ sơ tín dụng số ECH/23012/TTONL theo đó tại khoản 2, khoản 3 Điều 1 của Thỏa thuận ghi nhận: Bằng việc tiếp nhận thông tin, yêu cầu của khách hàng qua ứng dụng Race App; hệ thống tự động của Ngân hàng tiếp nhận, trao đổi thông tin, tài liệu, ký kết hợp đồng, chứng từ giao dịch với khách hàng để thực hiện cấp tín dụng, giải ngân, sử dụng vốn vay và các giáo dịch khác liên quan theo thỏa thuận của các bên tại thỏa thuận này.

Tại Khoản 5 Điều 2 của Thỏa thuận các bên thống nhất rằng “Khách hàng đồng ý rằng các giao dịch (cấp tín dụng, bảo đảm, nhận nợ,...), đề nghị trên hệ thống được coi là được xác lập bởi khách hàng và không thể bị từ chối khi hệ thống xác thực được Chữ ký số là của Khách hàng và/hoặc (các) yếu tố bảo mật được sử dụng là của khách hàng. Các bên đồng ý rằng Chữ ký số của Khách hàng là Chữ ký được nhận dạng, xác thực thông qua hệ thống của bên ngân hàng hoặc bên khác do Ngân hàng chỉ định. Khách hàng chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động nào của Khách hàng nhằm xác lập, thực hiện các giao dịch trên Hệ thống”. Thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử năm 2005 do đó các giao dịch tín dụng (bao gồm hợp đồng tín dụng, xác nhận nợ, hồ sơ giải ngân, hồ sơ tài sản bảo đảm) được xác lập thông qua hệ thống tự động, không vi phạm điều cấm nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

[2.2] Về yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc:

Căn cứ đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 110523-3672964-ONL-34 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-35 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-36 ngày 12/5/2023; 240523-3672964-ONL-37 ngày 24/5/2023, lời thừa nhận của Bị đơn có cơ sở xác định Nguyên đơn đã giải ngân cho Bị đơn số tiền 2.571.690.663 đồng.

Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.

Tại Điều 6 của các khế ước nhận nợ các bên thỏa thuận Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ gốc một lần vào cuối kỳ trả nợ. Tuy nhiên, đã hết thời hạn thanh toán, tính đến ngày 10/9/2024, Bị đơn chỉ thanh toán được số 165 đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc cho Nguyên đơn. Việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả số tiền 2.571.690.498 đồng nợ gốc là phù hợp với quy định Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên yêu cầu của Nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ lãi:

Căn cứ nội dung thỏa thuận tại Mục 5 Điều 1 của các khế ước nhận nợ số: 110523-3672964-ONL-34 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-35 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-36 ngày 12/5/2023; 240523-3672964-ONL-37 ngày 24/5/2023) thì lãi suất cho vay là mức lãi suất trong hạn tại thời điểm vay là 19.5%/năm; riêng mức lãi suất áp dụng đối với Khế ước nhận nợ số 240523-3672964-ONL-37 ngày 24/5/2023 là 19.4%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 01 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Hết thời hạn một tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 12/06/2023. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên ngân hàng do Hội sở chính của Bên ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn 06 tháng và ký điều chỉnh lãi suất là 1 tháng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 10.50%/năm.

Cho đến nay, lãi cho vay trong hạn đối với khoản cấp tín dụng cho Bị đơn được điều chỉnh vào các kỳ như sau: vào ngày 12/06/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 19.30%/năm; Ngày 12/07/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 19.20%/năm; Ngày 12/08/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 18.60%/năm; Ngày 12/09/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 17.80%/năm; Ngày 12/10/2023 lãi suất sau điều chỉnh là 17.70%/năm và giữ cố định mức lãi suất này cho đến nay.

Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc thỏa thuận của các đương sự về lãi suất là phù hợp với quy định của Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo thỏa thuận, Bị đơn có trách nhiệm trả lãi định kỳ 01 tháng 01 lần vào ngày 05 hàng tháng bắt đầu từ ngày 05/6/2023. Tuy nhiên, Bị đơn đã không thanh toán đầy đủ tiền lãi khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mà hai bên đã ký.

Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi và ngày 06/11/2023 Nguyên đơn chuyển toàn bộ số nợ thành nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại M 11 Điều 1 của Hợp đồng cho vay số ECH/23012 ngày 11/5/2023.

Xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc yêu cầu Bị đơn thanh toán tiền lãi tạm tính đến ngày 10/9/2024 với số tiền bao gồm: Nợ lãi trong hạn là 39.853.765 đồng; Nợ lãi quá hạn là 579.881.194 đồng; Nợ lãi chậm trả là 3.384.840 đồng là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 01/2019.NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi tính từ ngày 11/9/2024 trên tổng số tiền dư nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ, theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ là phù hợp với Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[2.4] Về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:

Xét, ngày 11/5/2023 bà Nguyễn Thị Anh Đ1 ký Hợp đồng bảo lãnh số ECH/23012/HDBL với Nguyên đơn theo đó cam kết và đồng ý bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang cho Bị đơn trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lại, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi; các khoản phí, phạt, bồi thường thiệt hại, phải hoàn trả và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Bị đơn đối với Nguyên đơn phát sinh từ tất cả các Văn kiện tín dụng. Trong đó bao gồm Hợp đồng cho vay số ECH/23012 ngày 11/5/2023; Thỏa thuận khung về cấp tín dụng số ECH/23012/TTK ngày 11/5/2023; các văn kiện tín dụng ký trước, trong và sau ngày ký hợp đồng bảo lãnh.

Bà Đ1 và người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn cho rằng: Bà Đ1 trước đây là Người đại diện theo pháp luật và là kế toán Công ty TNHH S. Hiện nay công ty không còn hoạt động, bà Đ1 đã nghỉ việc nên không còn liên quan đến công ty N. Vì vậy đề nghị Tòa án hủy bỏ tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà Đ1.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bà Đ1 và Bị đơn đề nghị Tòa án hủy bỏ tư cách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của bà Đ1 vì không còn liên quan đến công ty. Xét thấy, bà Đ1 là người ký hợp đồng bảo lãnh để đảm bảo nghĩa vụ bảo lãnh cho Bị đơn. Vì vậy, bà Đ1 là người được Tòa án xác định là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc bà Đ1 đề nghị xin được chuyển nghĩa vụ bảo lãnh của bà sang cho người đại diện theo pháp luật mới của công ty. Xét thấy, do không có sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc chuyển nghĩa vụ bảo lãnh cho người dại diện theo pháp luật mới của công ty, tại phiên tòa người nhận bảo lãnh là Ngân hàng TMCP V không đồng ý miễn trách nhiệm bảo lãnh cho bà Đ1, không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ bảo lãnh của bà Đ1 cho người khác, vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Tại phiên tòa, bà Đ1 thừa nhận bà người đứng ra ký hợp đồng bảo lãnh. Xét thấy việc bà Đ1 ký bảo lãnh với tư cách cá nhân, không phải là tư cách người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc một tổ chức nào khác. Vì vậy trong trường hợp Bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ khoản tiền nêu trên thì bà Đ1 phải có trách nhiệm trả hết số nợ cho Ngân hàng. Xét hợp đồng lãnh được ký kết giữa Nguyên đơn và bà Đ1 tuân thủ quy định của pháp luật nên yêu cầu của Nguyên đơn buộc Đ1 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được Hội đồng xét xử chấp chấp nhận.

[3] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán cho Nguyên đơn; hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 335; Điều 336; Điều 342; khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật Các tổ chức Tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 7; Điều 8; Điều 12; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V:

    Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 3.194.810.297 đồng. Trong đó nợ gốc là 2.571.690.498 đồng; Nợ lãi trong hạn là 39.853.765 đồng; Nợ lãi quá hạn là 579.881.194 đồng; Nợ lãi chậm trả là 3.384.840 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH S còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay số ECH/23012 ngày 11/5/2023; Các khế ước nhận nợ số: 110523-3672964-ONL-34 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-35 ngày 12/5/2023; 120523-3672964-ONL-36 ngày 12/5/2023; 240523-3672964-ONL-37 ngày 24/5/2023.

    Trong trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V thì buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên theo Hợp đồng bảo lãnh số ECH/23012/HDBL ngày 11/5/2023.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

    Công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 95.896.206 đồng (Chín mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ sáu đồng).

    Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.128.538 đồng (Bốn mươi bốn triệu, một trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm ba mươi tám) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0037517 ngày 16/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - TANDTP.HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/KDTM-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 232/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán dư nợ tín dụng còn thiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger