TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 232/2024/HSST
Ngày: 06/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt C và bà Dương Thị T
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần H
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy D – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 195/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc T, sinh năm 1989; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Thôn N, Làng G, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Phạm Văn T1 và bà Hoàng Thị N
Bị cáo có vợ là La Thị L, sinh năm 1997 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/4/2024. Hiện tạm giam tại trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Số giam: 1708E2/8 – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Phạm Ngọc T nghiện ma tuý Heroin từ năm 2019, sử dụng bằng hình thức hít ma tuý vào cơ thể. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 11 giờ 30 ngày 01/04/2024 T sử dụng điện thoại số 0968.437.xxx gọi cho 01 nam thanh niên tên Trần Quang T2 (sử dụng số điện thoại 0396.136.xxx) để mua 400.000₫ ma tuý Heroin. T2 đồng ý, gửi số tài khoản 038522240 ngân hàng V để T chuyển tiền mua ma túy và hẹn T đến khu vực siêu thị A, phường D, quận H để giao dịch. Khoảng 12 giờ T đi bộ đến nơi hẹn, khi gần đến nơi T sử dụng tài khoản số [...] tại ngân hàng M chuyển số tiền 400.000₫ đến tài khoản ngân hàng của T2 để thanh toán tiền mua ma túy. Khi đến nơi, T gọi điện thoại cho T2, khoảng vài phút sau T2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubitshi Xpander vỏ màu cam (không rõ BKS) đến gặp T tại khu vực đối diện trung tâm thương mại A1, tại đây T2 đưa cho T 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroin rồi bỏ đi; T giấu gói ma tuý vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ về nhà chị gái tại đường S, phường P, N, Hà Nội. Khoảng 12 giờ 30 Túc đi về đến ngõ C, đường S, phường P, N, Hà Nội thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma tuý kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy.
- - 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Pro Max màu xanh lắp sim số 0868221972;
- - 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 105 lắp sim số 0968437003.
* Tại Bản kết luận giám định số 2516 ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng có khối lượng 0,313 gam là ma tuý loại Heroin.
Tại bản cáo trạng số 186/CT-VKSNTL ngày 16/7/2024 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 186 ngày 16/7/2024 của VKSND quận Nam Từ Liêm đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 01/4/2024, tại khu vực ngõ C, phường P, quận N, Hà Nội, Phạm Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,313 gam ma túy Heroine để sử dụng, thì bị Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận N phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh một số loại tội phạm, gây mất trật tự trị an, làm băng hoại đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân của bị cáo: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Lần đầu phạm tội, nhưng phạm tội nghiêm trọng.
Xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương ứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, hiện bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung “Phạt tiền” cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của bị cáo.
Liên quan trong vụ án này còn có thanh niên tên Trần Quang T2, không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0396.136.xxx và tài khoản số [...] tại ngân hàng V1. Qua xác minh số tài khoản ngân hàng, xác định chủ đăng ký tài khoản ngân hàng số [...] tại V1 là Trần Quang T2 (SN:1951 – HKTT: phố T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ). Ngày 05/5/2024, Trần Quang T2 bị Cơ quan điều tra – Công an quận N bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại phường Đ, N, Hà Nội (ngày 09/5/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngày 09/5/2024 ra quyết định khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam đối với Trần Quang T2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS). Tiến hành ghi lời khai Trần Quang T2, T2 khai nhận: T2 là người quản lý và sử dụng số điện thoại 0396.136.xxx và tài khoản ngân hàng V số [...]. T2 khai nhận bản thân là người đã bán ma túy cho Phạm Ngọc T vào ngày 01/4/2024 tại khu vực đối diện cổng AEON Mall Hà Đ. Tiến hành cho Phạm Ngọc T nhận dạng kết quả T xác nhận Trần Quang T2 là người đã bán ma túy cho T vào ngày 01/4/2024. Ngày 20/6/2024 Cơ quan CSĐT Công an quận N đã ra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến hành vi của T2 trong vụ án chuyển vào vụ án số 160 ngày 09/5/2024 để tiếp tục điều tra, làm rõ theo quy định nên không xem xét, xử lý đối với T2 trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Tại phien tòa bị cáo khai sử dụng chiếc điện thoại Iphone để tìm mua ma túy trên mạng, khi có số điện thoại thì bị cáo dùng chiếc điện thoại Nokia để liên lạc với người bán nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 46, 47 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Phạm Ngọc T 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động, 01 chiếc kiểu dáng Iphone 11 promax màu xanh lắp 01 sim, 01 chiếc hiệu Nokia màu đen lắp 01 sim. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đã được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của Phạm Ngọc T, giám định viên, cán bộ Công an quận N và giám định viên.
(Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 252 ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 232/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 232/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Túc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy
