Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Yển

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Bà Dương Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 116/2025/TLST-DS ngày 5 tháng 3 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/5/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Cà Thị T, sinh năm 2002.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Hải Dương; Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.

Người được chị T ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương: Anh Đoàn Hồng H, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A, đường T, KDC K, phường C, thành phố C.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Hải Dương.

( Chị T, anh M đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt - Nguyên đơn chị T trình bày:

Chị T và anh M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã V), huyện K, tỉnh Hải Dương vào ngày 22/10/2020. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2023, chị T đi lao động tại Nhật Bản. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc cùng nhau, nhưng sau đó vợ chồng tranh cãi nhiều, cuộc sống xa cách, không có sự quan tâm, chia sẻ nên tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 03/2/2020 hiện cháu, hiện cháu N đang được anh M chăm sóc và nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu N cho anh M chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T tự nguyện chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: Về điều kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày là đúng. Nay chị T có quan điểm xin ly hôn, anh nhất trí ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 03/2/2020, hiện cháu N đang được anh M chăm sóc và nuôi dưỡng. Nếu ly hôn anh đề nghị được nuôi cháu N cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con cùng anh với số tiền 2.000.000đ/01 tháng.

Về tài sản, công nợ chung: Anh M không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa:

  • - Các đương sự đều vắng mặt.
  • - Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hải Dương: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án; đề nghị HĐXX, xử cho chị T được ly hôn anh M; giao con chung Nguyễn Thị Hồng N cho anh M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M số tiền 2.000.000đ/01 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.1] Nguyên đơn chị Cà Thị T hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản; nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại: Xã V, huyện K, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh M tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã V), huyện K vào ngày 22/10/2020 nên là hôn nhân hợp pháp.

Chị T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023, chị đi lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc cùng nhau, nhưng sau đó vợ chồng thường cãi nhau, cuộc sống xa cách, không có sự quan tâm, chia sẻ nên tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M. Anh M cũng có quan điểm đồng ý ly hôn chị T.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị T được ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Chị T và anh M có 01 con chung là Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 03/02/2020, hiện cháu N đang được anh M chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị T có quan điểm giao cháu N cho anh M chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh M có quan điểm từ khi chị T đi Nhật Bản năm 2023 đến nay anh là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, anh đề nghị Tòa án giao cháu N cho anh tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Do vậy, cần chấp nhận quan điểm của chị T, anh M giao cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 3/2/2020 cho anh M chăm sóc và nuôi dưỡng từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng anh M số tiền 2.000.000đ/01 tháng kể từ tháng 5/2025 đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị Thúy ly H1 anh Nguyễn Văn M.

2. Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 3/2/2020 cho anh Nguyễn Văn M tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng từ tháng 5 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Chị T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 3/2/2020 cho anh Nguyễn Văn M số tiền 2.000.000đ/01 tháng, kể từ tháng 5/2025 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Chị Cà Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001690 ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T còn phải nộp 300.000đ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Mạnh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm.

Chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Vũ Dũng, huyện Kim Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Yển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 232/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger