Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 232/2024/HSST

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Hội thẩm nhân dân Ông Hoàng Văn Long.
Bà Trương Thị Thái.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: Bà Mai Thị Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2024/HSST ngày 14/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Trọng T – sinh ngày 11/05/2006.

    Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Giới tính: nam. Con ông: Hoàng Minh Q, Con bà Phùng Thị M. Anh chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 15/12/2022, bị cáo bị Công an H7, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng và điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe bằng hình thức cảnh cáo. Ngày 10/01/2014, bị cáo bị Công an quận N, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây tổn hại sức khỏe cho người khác bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 -Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

  2. Họ và tên: Nguyễn Hoài N - sinh ngày 18/01/2007.

    Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn Giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông: Nguyễn Anh T1, Con bà PhạmThị H; Anh chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 18/10/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (bản án sơ thẩm số 256/2023/HSST). Về nhân thân: Ngày 17/02/2024, bị cáo có hành vi Gây rối trật tự công cộng, bị khởi tố bị can ngày 25/4/2024, hiện đang bị tòa án nhân dân huyện Thanh Trì áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318- Bộ luật hình sự. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong một vụ án khác tại Trại giam S - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

  3. Họ và tên: Mai Huy H1 – sinh ngày 05/08/2007.

    Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông: Mai Mạnh H2 (đã chết), Con bà Thái Thị Thảo N1; Anh chị, em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con ba; Tiền án; không; tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 14/9/2023, bị cáo bị công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương bằng hình thức cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Trần Ngọc T2 - sinh ngày 24/8/2003.

    Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Công giáo; Giới tính: Nam. Con ông: Trần Văn M1, Con bà Trần Thị H3; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Có vợ: Trịnh Thị H4, có 01 con sinh năm: 2021, 2007; Tiền án: tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Đặng Nguyễn D - sinh ngày 15/09/2007.

    Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông: Đặng Văn T3, Con bà Nguyễn Thị H5; Gia đình bị cáo có 3 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. D1 chỉ bản số 542 ngày 30/8/2024 Công an huyện T lập; Tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

-Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hoài N: Ông Nguyễn Anh T1 và bà Phạm Thị H6 (Có mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Mai Huy H1: Bà Thái Thị Thảo N1 (Có mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Nguyễn D: Ông Đặng Văn T3 và bà Nguyễn Thị H5 (Có mặt tại phiên tòa).

Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện T, Tp Hà Nội.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài N: Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T7 (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho các bị cáo Mai Huy H1 và Đặng Nguyễn D: Bà Hồ Bích P (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Các bị cáo Hoàng Trọng T, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2 và Đặng Nguyễn D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố về hành vi phạm tội như sau;

Khoảng 17 giờ ngày 15/11/2023, tại khu vực trường cấp 2 thị trấn V, T, Hà Nội xảy ra mâu thuẫn, xích mích giữa:

Nhóm thứ nhất gồm: Nguyễn Minh Đ (sinh năm: 09/12/2009; 13 tuổi 11 tháng 06 ngày; địa chỉ: Q, Thị Trấn V, T, Hà Nội), Nguyễn Ngọc A (sinh năm: 2009, 14 tuổi 07 tháng 05 ngày; địa chỉ: thị Trấn V, T, Hà Nội), Nguyễn Quang M2 (sinh năm: 2008, 14 tuổi 08 tháng; địa chỉ: khu đô thị H city, T, T, Hà Nội), Lê Anh D2 (sinh ngày 15/03/2009; 14 tuổi 08 tháng, địa chỉ: thị trấn V, T, Hà Nội).

Nhóm thứ hai gồm: Đặng Nguyễn D, Trần Mai A1 (sinh năm: 09/10/2008; 15 tuổi 01 tháng 06 ngày; địa chỉ: ngách A, thị trấn V, T, Hà Nội), Nguyễn Mai T4 (sinh năm: 04/11/2007; 16 tuổi 11 ngày; địa chỉ: xóm C, T, T, T, Hà Nội).

Sau khi xảy ra mâu thuẫn, Mai A1 nhắn tin qua facebook cho D2 hẹn gặp nhau tại quán trà đá đối diện lối vào Khu đô thị H, T, T, Hà Nội, còn Đ gọi cho D3 (chưa rõ lai lịch) rủ đến Khu đô thị H để giải quyết việc với nhóm của D thì D3 đồng ý và rủ thêm Nguyễn Hoàng Quốc A2 (sinh ngày 04/02/2009; 14 tuổi 09 tháng 11 ngày, địa chỉ: T, T, T, Hà Nội) đi cùng. Sau đó D3 lấy 01 gậy sắt dạng 3 khúc (gậy bị gãy một đoạn) cho vào cốp xe mô tô rồi chở Quốc A2 cùng đi đến gặp M2. Khi đến nơi, D3 lấy gậy sắt trong cốp xe đưa cho M2 cầm rồi cả nhóm cùng đi đến khu vực cách quán trà đá đã hẹn khoảng 7-8m thì cả nhóm cùng nhìn thấy D, Mai A1 và Mai T4 đang ngồi ở quán nước. Khi thấy nhóm của Đ và M2, thì Mai A1, Mai T4 đi bộ đến chỗ nhóm của Đ và M2 để nói chuyện. Tại đây Mai A1 chửi lại M2 nên M2 rút gậy 3 khúc bên trong người ra vụt 01 cái thì Mai A1 tránh được, Minh vụt tiếp 3 cái vào đùi bên trái của Mai A1. Lúc này D ngồi ở quán nước lấy 01 chiếc điếu cày bằng tre màu nâu được quấn băng dính đen, dài khoảng 40cm chạy đến vụt vào lưng của D3 khoảng 2,3 phát. Còn Đ lúc này đang cầm 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 4cm ném D nhưng không trúng nên D bỏ chạy thì D3 chạy ra vỉa hè nhổ cọc tre dài khoảng 3m đường kính 6cm ở vệ đường đuổi theo, M2 cũng cầm gậy dạng 3 khúc đuổi theo D nhưng không đuổi kịp. Sau đó Dương chạy về quán nước trả lại điếu cày rồi lấy xe chở Mai A1, Mai T4 chạy vào cổng bệnh viện N2, T, T, Hà Nội; D3 và Quốc A2 đi xe mô tô vào tìm D nhưng không thấy thì quay về vị trí cũ. Sau đó D3, Đ và Quốc A2 tiếp tục bàn bạc hẹn nhóm D tối đi đánh nhau tiếp, còn D2 và M2 đi về, trên đường về M2 đã vứt cây gậy 3 khúc đi. Sau đó, D3 và Đ đi đến nhà của Hoàng Trọng T ở Đ, T, T, Hà Nội và rủ T đi đến khu đô thị H để đánh nhau thì T đồng ý. D3 liền gọi qua Facebook M3 rủ thêm Trần Ngọc T2 cùng đi đánh nhau thì T2 đồng ý và tự đi xe mô tô một mình đến gặp nhóm của D3, Đ, T, Ngọc A, Quốc A2.

Trên đường M và Mai T4 đi về thì Mai A1 nhắn tin cho Nguyễn Hoài N nói về việc bị nhóm của Đ đánh và nhờ N đi gặp nhóm của Đ để nói chuyện hòa giải thì N đồng ý và bảo Mai A1, Mai T4 đi đến nhà văn hóa thôn T, T, T, Hà Nội đợi N. Sau đó, N gọi điện qua ứng dụng Facebook messenger cho Mai Huy H1 bảo H1 cầm 01 con dao tông dài 50cm, chuôi gỗ, bản rộng 4cm, đầu vuông (nguồn gốc con dao là của N đưa cho H1 vào khoảng ngày 08/11/2023) đi đến nhà văn hóa thôn T chờ N. H1 đồng ý và đi ra gốc cây sấu gần nhà lấy con dao đã cất giấu rồi đi đến nhà văn hóa chờ N. Khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, D đi xe mô tô chở Mai A1 và Mai T4; N đi xe mô tô một mình đến nhà văn hóa gặp H1. H1 đưa con dao cho N, N cầm rồi giấu vào trong người. H1 điều khiển xe mô tô chở N đi trước, còn Mai A1, Mai T4 và D đi sau trên cùng một xe đến khu vực Bệnh viện N2.

Khi H1 và N đi đến cổng khu đô thị H thì thấy nhóm của Ngọc A, Quốc A2, Đ, D3, T, T2 nên H1 và N tiến đến hỏi chuyện vì sao mà đánh nhau, thì hai bên nói lý do là do nhìn đểu và chửi nhau. N bảo hai bên hòa giải, không đánh nhau nữa. Khi đó, Mai A1, Mai T4, D đi xe vụt qua nên H1 và N đi xe đuổi theo bảo Mai A1, Mai T4 và D quay lại để hòa giải. Tuy nhiên, khi nhóm của Mai A1, Mai T4, D, H1 và N vừa quay lại cổng khu đô thị H thì D3 cầm dây lưng lao vào vụt 3 cái vào người D còn Đ, T2 và Quốc A2 dùng chân tay đánh, đấm vào người D. T đấm một cái vào mặt Huy H1; Huy H1 dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt T. Huy H1 bảo N đưa dao cho H1. N rút dao trong người ra nhưng không đưa cho Huy H1 mà cầm con dao giơ lên hướng phần lưng dao xuống chém về phía Tấn 3 cái thì T dùng tay ôm đầu lùi lại chạy nên bị trúng một phát vào cổ tay phải, mắt cá chân bên trái, và bị chém rách áo ở vị trí lưng áo bên trái (sau khi xảy ra sự việc T đã vứt chiếc áo này đi). Thấy N rút dao ra nên T2, Đ, D3 bỏ chạy về phía cầu P, Quốc A2 chạy về phía cả nhóm để xe, T chạy ra ven đường cách đó khoảng 10 mét và nhặt được 01 gậy gỗ dài khoảng 90cm, đường kính khoảng 4cm, quay lại chửi nhau với N, N cầm dao chém T thì T cầm gậy vụt lại 01 cái trúng dao của N. Sau đó, N bỏ chạy, T đuổi theo nhưng không kịp nên quay lại thì thấy Huy H1 đang cầm 02 nửa viên gạch, tay phải cầm gạch giơ lên theo tư thế chuẩn bị đánh T nên T theo phản xạ cầm gậy vụt một phát chéo từ dưới lên trên, từ phải sang trái trúng vào vùng đầu của H1 (sau này T mới biết H1 bị thương tích ở thái dương trái). Khi thấy H1 ngồi gục xuống ôm đầu thì T dừng lại không đánh H1 nữa. Lúc này, D3, Đ, T2 quay lại dùng chân đạp khoảng 3, 4 cái vào người H1. N chạy lại bảo thôi nên Đ, T2, D3 không đánh H1 nữa. Sau đó, cả hai nhóm dừng lại. Mai A1, Mai T4 hỏi H1 có sao không thì Hoàng T5 đứng dậy và ngồi lên xe của N và cùng đi về. Sau đó N tiếp tục chở H1 đi dạo lòng vòng qua khu đô thị P – Hoàng Mai một lúc rồi mới chở H1 về nhà. Trên đường đi N vứt con dao tông ở bụi cây bên đường, vị trí nào N không nhớ rõ. Khi về đến nhà, H1 lên tầng B nằm ngủ. Đến khoảng 19h30' cùng ngày, gia đình H1 phát hiện H1 có vết xước ở mặt bên trái và vết lõm ở trên đầu nên đã đưa H1 đến bệnh viện Nông nghiệp cấp cứu.

Ngày 18/11/2023, anh Mai Đức A3 (sinh năm 2004) là anh trai của H1 đến cơ quan công an trình báo sự việc.

Ngày 20/02/2024, UBND xã T có Văn bản số 38 với nội dung: UBND xã T nhận được phản ánh của Công an xã T, T, Hà Nội về vụ việc: ngày 15/11/2023 có hai nhóm đối tượng cầm theo hung khí đuổi đánh nhau tại KĐT H, T, T, Hà Nội là khu vực đông dân cư, gần bệnh viện N2, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, uy tín của địa phương, tạo tâm lý hoang mang cho người dân. UBND xã T đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiến hành điều tra, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng và đề nghị xử lý nghiêm trước pháp luật.

Công an xã T tiến hành rà soát xung quanh hiện trường xảy ra sự việc nhưng chưa phát hiện được camera ghi lại nội dung vụ việc.

Tiến hành dẫn giải Hoàng Trọng T chỉ vị trí vứt cây gậy, thu giữ được của T 01 khúc gỗ dài khoảng 90cm, rộng 4cm màu nâu. Ngoài ra, không thu giữ được các vật chứng khác.

Theo xác minh thương tích của Mai Huy H1 tại bệnh viện N3, xác định:

  • - Vào viện lúc 19h38' ngày 15/11/2023, ra viện lúc 16h30' ngày 27/11/2023
  • - Chẩn đoán lúc vào viện: chấn thương sọ não: vỡ thái dương T, máu tụ ngoài màng cứng thái dương T, đỉnh T do tai nạn bạo lực.
  • - Phương pháp điều trị: phẫu thuật sọ não lấy máu tụ; bù dịch, điện giải; Kháng sinh; Giảm đau; An thần, Chăm sóc vết mổ.
  • - Tình trạng người bệnh ra viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, không sốt; Da, niêm mạc bình thường; Tim đều. T1,T2 rõ, không có tiếng thổi bất thường; Phổi thông khí rõ, không rale; Bụng mềm, không chướng, gan lách không sờ thấy; Còn đau đầu, chóng mặt nhẹ, không buồn nôn, không nôn; Vết mổ khô, đau vết mổ ít, không có dịch thấm băng; Không yếu liệt thần kinh khu trú.

Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với:

  • - Hoàng Trọng T có 01 vết thương trên tay phải dài 5cm (đã đóng vẩy), 01 vết thương tại mắt cá chân phải (dài khoảng 3cm x 1cm), ngoài ra còn nhiều vết thương nhỏ khác (đã đóng vảy).
  • - Trần Mai A1 bị bầm tím đùi bên trái, đau phần mềm đùi trái.
  • - Đặng Nguyễn D: bị bầm tím, xây xước mặt, tay, đau phần mềm ở đầu.

Ngoài ra, không ai bị thương tích nào khác.

Ngày 15/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 260, 261, 262, 263 đối với Đặng Nguyễn D, Trần Mai A1, Mai Huy H1, Nguyễn Hoài N và có Quyết định dẫn giải các đối tượng đi giám định thương tích nhưng các đối tượng đều có đơn từ chối đi giám định.

Ngày 26/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 445 đối với Hoàng Trọng T và có Quyết định dẫn giải đối với T nhưng T có đơn từ chối đi giám định.

Tại cơ quan điều tra, các bị can Trần Ngọc T2, Nguyễn Hoài N, Hoàng Trọng T, Mai Huy H1, Đặng Nguyễn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.

Do Nguyễn Hoàng Quốc A2 và Nguyễn Quang M2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên ngày 26/09/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng Quốc A2 bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây mất trật tự tại khu dân cư quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ; ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quang M2 bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương quy định tại điểm b, Khoản 5, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ

Đối với đối tượng tên D3 có hành vi đánh Đặng Nguyễn D và Mai Huy H1 nhưng quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên ngày 26/09/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 đoạn gậy gỗ dài 90cm, đường kính 4cm là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 gậy sắt dạng 3 khúc (gậy bị gãy một đoạn) M2 dùng để đánh Mai A1; 01 điếu cày bằng tre màu nâu quấn băng dính đen dài khoảng 40cm D dùng để đánh M2; 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 60cm Đ dùng để ném D; 01 cọc tre dài khoảng 3m D3 dùng để đuổi đánh D; 01 con dao tông dài khoảng 50cm, chuôi gỗ, bản rộng 4cm, đầu vuông N dùng để chém T; 01 dây thắt lưng da D3 dùng để đánh D... quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã rà soát truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về bồi thường dân sự: gia đình của Hoàng Trọng T đã bồi thường cho M Huy Hoàng số tiền 15.000.000 đồng; gia đình Nguyễn Hoài N đã hỗ trợ H1 số tiền 55.000.000 đồng; Mai Huy H1 đề nghị các đối tượng đánh gây thương tích cho H1 bồi thường tiền viện phí, thuốc men, tổn hại sức khỏe số tiền là 201.910.164 đồng.

Tại bản cáo trạng: số 222/ CT-VKSTT ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Trọng T6, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Nguyễn Trọng T6, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều có khó khăn.

Đại diện của bị cáo H1 là bà Thái Thị Thảo N1 đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo T6 số tiền là 15.000.000đồng, gia đình bị cáo N hỗ trợ số tiền là 55.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T2 bồi thường số tiền là 55.000.000 đồng, gia đình bị cáo D cũng hỗ trợ số tiền là 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa ngày hôm nay gia đình bị cáo H1 không yêu cầu về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T6, N, D và T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 101 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt đối với Hoàng Trọng T từ đến 28 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 09/9/2024.
  • + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56, Điều 101, Điều 104 - Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt đối với Nguyễn Hoài N từ 26 đến 28 tháng tù. Bị cáo còn phải chấp hành 20 tháng tù treo chuyển thành 20 tháng tù giam của bản án trước. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án từ 46 đến 48 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt đối với Mai Huy H1 từ 24 đến 26 tháng tù.
  • + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt đối với Trần Ngọc T2 từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 48 đến 52 tháng.
  • + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt đối với Đặng Nguyễn D từ 20 đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 40 đến 44 tháng.

Về dân sự: Gia đình của Hoàng Trọng T đã bồi thường cho M Huy Hoàng số tiền 15.000.000 đồng. Gia đình Nguyễn Hoài N số tiền 55.000.000 đồng. Mai Huy H1 đề nghị các đối tượng đánh gây thương tích cho H1 bồi thường tiền viện phí, thuốc men, tổn hại sức khỏe số tiền là 201.910.164 đồng. Tại phiên tòa về phía bị cáo H1 không yêu cầu về phần dân sự. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì không xem xét.

Về vật chứng: Đoạn gỗ dài 90cm, không còn giá trị sử dụng, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Trợ giúp viên pháp lý bà Hồ Bích P– Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố T7 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo H1: Thống nhất về mặt tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo N. Bố bị cáo mất sớm, mẹ bị cáo một mình nuôi dạy các con, gia đình bị cáo kinh tế khó khăn. Bị cáo phạm tội trong độ tuổi vị thành niên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế, việc xét xử đối với bị cáo vị thành niên hướng đến giáo dục là chính không làm nặng thêm tình trạng phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo H1 được hưởng mức án thấp nhất.

Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị L – Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố T7 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo N có ý kiến: Thống nhất về mặt tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo N. Khi bị cáo N phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên về mặt nhận thức còn chưa thấu đáo, động cơ là đến để hòa giải, nhưng bị cáo không làm được như ý muốn, vì bị cáo thần khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Trợ giúp viên pháp lý bà Hồ Bích P– Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố T7 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đặng Nguyễn D: Bị cáo D và gia đình đã hỗ trợ cho bị cáo H1 số tiền là 10.000.000 đồng, có ông ngoại là Liệt sỹ, bị cáo đã nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của bản thân. Khi bị cáo phạm tội chưa thành niên nên nhận thức còn hạn chế, Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 17 ngày 15/11/2023 tại khu vực Khu đô thị H, T, T, Hà Nội, do xảy ra xích mích giữa hai nhóm dẫn đến các đối tượng đã sử dụng gậy ba khúc, điếu cày, cọc tre gậy gỗ đánh nhau. Tại đây Đặng Nguyễn D đã dùng điều cày, đánh lại nhóm đối kháng gây mất trật tự trị an.

    Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, cũng tại cổng Khu đô thị Hồng Hà E, hai nhóm nêu trên tiếp tục xảy ra xích mích nên Nguyễn Trọng T6, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D và các đối tượng đã có hành vi dùng thắt lưng, dao, gậy gỗ và chân tay không chửi bới, hò hét đuổi đánh nhau gây mất an ninh trật tự. Đối chiếu quy định của pháp luật Nguyễn Trọng T6, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D đã phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 - Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

  3. Về các tình tiết tăng nặng: bị cáo N có 01 tiền án chưa xóa án tích, thể hiện nhân thân xấu. Theo Điều 107 – Bộ luật hình sự lần này bị cáo phạm tội không phải là tái phạm.

    Bị cáo T6 có 02 tiền sự, bị cáo H1 có 01 tiền sự thể hiện nhân thân xấu.

    Bị cáo Đặng Nguyễn D và Trần Ngọc T2 không có tiền án, tiền sự thể hiện có nhân thân tốt.

  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà tất cả các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Nguyễn D có ông ngoại là liệt sỹ, gia đình bị cáo N, T6 đã bồi thường cho bị cáo H1, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo T2 và D chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo T6, N, H1, T2 và D khi phạm tội đều là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
  5. Vai trò của các bị cáo trong vụ án:

    Hành vi phạm tội của các bị cáo do sự bột phát không có sự bàn bạc chuẩn bị từ trước. Bị cáo T6 có vai trò cao nhất, rồi đến bị cáo H1, N tiếp đến T2 và D có vai trò thấp nhất.

Về dân sự: Gia đình bị cáo H1 đã nhận phần bồi thường của gia đình bị cáo N và gia đình bị cáo T6, bị cáo D và bị cáo T2, không yêu cầu về phần dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Để trừng trị đồng thời cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, vai trò nhân thân của từng bị cáo. Do đó cần cần thiết phải cách ly các bị cáo Hoàng Trọng T, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, ra khỏi đời sống một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người tốt.

Xét thấy bị cáo Trần Ngọc T2 và Đặng Nguyễn D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội do bột phát, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của hội đồng Thẩm phán TANDTC. Căn cứ vào nghị quyết số 02/VBHN- TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp dụng án Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo ngày 07/9/2022. Do vậy cho các bị cáo Trần Ngọc T2 và Đặng Nguyễn D được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Các vấn đề khác: Nguyễn Hoàng Quốc A2 và Nguyễn Quang M2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên ngày 26/09/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng Quốc A2 bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây mất trật tự tại khu dân cư quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ; ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quang M2 bằng hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương quy định tại điểm b, Khoản 5, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ- CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ

Đối với đối tượng tên D3 có hành vi đánh Đặng Nguyễn D và Mai Huy H1 nhưng quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên ngày 26/09/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: 01 gậy gỗ dài 90 cm không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự.

VÌ CÁC LẼ TRÊN:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Trọng T, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38, Điều 56, Điều 101, Điều 104 - Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Hoài N.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với Hoàng Trọng T.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với Mai Huy H1.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Trần Ngọc T2.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 và 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với Đặng Nguyễn D.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Trọng T 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo còn phải chấp hành 20 (hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 20 (hai mươi) tháng tù giam (bản án số 256/ 2023/HSST ngày 18/10/2023 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, Tp Hà Nội). Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của hai bản án là 44 (bốn mươi bốn) tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày bắt quả tang ngày 9/4/2023, tạm giữ ngày 10/4/2023 hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 15/4/2023 của bản án số 256/2023/HSST ngày 18/10/2023 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024 (trong vụ án khác).

    Xử phạt bị cáo Mai Huy H1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2024.

    Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T2 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án hình sự sơ thẩm.

    Tuyên trả tự do cho bị cáo Trần Ngọc T2 tại phiên tòa, nếu không bị giam giữ về tội khác.

    Giao bị cáo Trần Ngọc T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

    Xử phạt bị cáo Đặng Nguyễn D 22 (hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 44 (bốn mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án hình sự sơ thẩm.

    Tuyên trả tự do cho bị cáo Đặng Nguyễn D tại phiên tòa, nếu không bị giam giữ về tội khác.

    Giao bị cáo Đặng Nguyễn D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  3. Về dân sự: ghi nhận gia đình bị cáo H1 đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo T số tiền là 15.000.000 đồng; gia đình bị cáo Trần Ngọc T2 số tiền là 55.000.000 đồng; gia đình bị cáo N số tiền là 55.000.000 đồng; Gia đình bị cáo D số tiền 10.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu gì phần dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì không xem xét.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 gậy gỗ dài 90cm.

    (Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024)

  5. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sư năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Mai Huy H1, Nguyễn Hoài N, Đặng Nguyễn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bào chữa cho bị cáo Mai Huy H1, Nguyễn Hoài N, Đặng Nguyễn D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  7. Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

    Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.




Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 232/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Trọng T, Nguyễn Hoài N, Mai Huy H1, Trần Ngọc T2, Đặng Nguyễn D phạm tội" Gây rối trật tự công cộng".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger