Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 232/2024/HS-ST

Ngày: 17-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Bá Nhịn

2/ Bà Lê Thị Nhanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 271/TLST-HS ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2054/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị H; giới tính: Nữ; Sinh năm 1972; tại tỉnh P; hộ khẩu thường trú: số 435 đường A, phường B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Trần L (Trần Văn L); và Nguyễn Thị X; Chồng Nguyễn Quốc F, con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 214/2020/HS-ST ngày 28/9/2020, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

Năm 1999, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 28/HS-ST ngày 27/4/1999; Năm 1999, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 55/HS-ST ngày 19/4/1999, tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/HS-ST ngày 27/4/1999, xử phạt Trần Thị H 12 tháng tù. H đã chấp hành xong án phạt tù ngày 17/5/2000; Ngày 24/9/2011, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 26/9/2011; Ngày 05/3/2014, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài

sản”, đã nộp phạt ngày 07/3/2014; Năm 2020, bị Tòa án nhân dân quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 214/2020/HS-ST ngày 28/9/2020, chấp hành xong ngày 27/4/2021,

Tạm giam từ ngày 01/4/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Trần Thị Bạch Y, sinh năm 1977; Nơi thường trú: số 27, đường số A, khu dân cư N, phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh (xin xét xử vắng mặt).

Người bào chữa: Ông Đỗ Ngọc O, Luật sư – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Trần Thị H (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 30/03/2023, Trần Thị H điều khiển xe máy hiệu SH Mode, màu sơn bạc, biển số: 50N2-320xx đến chợ P, Phường H, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh để mua đồ. Khi đi ngang qua bên hông nhà số 628 đường H, Phường H, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, H nhìn thấy xe máy hiệu Honda SH Mode, màu sơn đen - đỏ, biển số: 59F2-262.xx của chị Trần Thị Bạch Y (sinh năm 1977, HKTT: số 27, đường số A, khu dân cư N, phường A, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh), không có người trông coi, yên xe bị hở không đóng chốt, H tiến tới mở cốp xe lên thì phát hiện bên trong cốp xe có 01 túi nilon màu đen. H liền dùng tay phải mở yên xe lên, lấy trộm túi nilon màu đen ra khỏi cốp xe và đi bộ ngược lại chỗ xe SH Mode màu bạc, biển số 50N2-320xx của H dựng gần đó, bỏ túi nilon màu đen vừa lấy trộm được vào cốp xe rồi điều khiển xe tẩu thoát. Khi đến gần ngã tư B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh, H tấp xe vào lề đường, mở cốp xe kiểm tra túi nilon màu đen vừa trộm được thì phát hiện bên trong có nhiều cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng, 50.000 đồng, 10.000 đồng và 5.000 đồng. H lấy các cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng (không biết rõ là bao nhiêu) để vào túi màu đỏ có sẵn trong cốp xe, số tiền còn lại vẫn để nguyên trong túi nilon màu đen rồi đi về nhà tại địa chỉ số 435 đường A, phường B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. H cất giấu số tiền trong trong túi nilon màu đen dưới tủ thờ trong nhà, đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, H điều khiển xe máy hiệu SH Mode, màu bạc, biển số 50N2-320xx đem theo túi màu đỏ đựng số tiền mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng vừa trộm cắp được đi đến Ngân hàng A địa chỉ số 97 T, phường BA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh để gửi vào tài khoản tiết kiệm thì bị Công an Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện trong túi màu đỏ H mang theo có số tiền 560.000.000 đồng. Khám xét tại nhà của Trần Thị H, địa chỉ nhà số 435 đường A, phường B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ được số tiền còn lại là 294.810.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, chị Trần Thị Bạch Y trình bày: Số tiền chị Y để trong túi nilon màu đen đặt trong cốp xe bị Trần Thị H trộm cắp là 854.810.000 đồng, đây là số tiền bán thịt heo và tiền cá nhân của chị Y.

Qua xác minh, xe máy hiệu SH Mode, màu sơn bạc, biển số: 50N2-320xx thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Quốc H (sinh năm 1969, địa chỉ 435 đường A, phường B, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh), ông H mua xe để cho vợ là Trần Thị H đi buôn bán hàng ngày, ông H không biết H sử dụng xe trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/3/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trao trả lại cho ông H.

Số tiền 854.810.000 đồng là tài sản cá nhân của bị hại Trần Thị Bạch Y, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã trao trả toàn bộ số tiền này cho chị Y;

Vật chứng thu giữ:

- Số tiền 60.500.000 đồng là tiền cá nhân của Trần Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã nhập vào Kho bạc Nhà nước theo quy định;

- 01 Điện thoại Sam Sung Note+ màu vàng; 01 áo khoác dài tay màu xanh ngọc; 01 nón bảo hiểm màu đen, sọc trắng vàng; 01 bộ quần áo thun màu trắng có hoa màu hồng; 01 đôi dép mủ màu đen có lỗ; 01 khẩu trang màu xanh đen có dòng chữ Supreme; 01 túi nilon màu đỏ và 01 túi nilon màu đen; 01 ví cầm tay hiệu Lare Boss.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Trần Thị H.

Tại Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS-P2 ngày 10 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Bị cáo Trần Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Trần Thị H về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Trần Thị H: 13 đến 14 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2023.

Trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng: điện thoại, số tiền 60.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Luật sư trình bày: Thống nhất về tội danh và điều khoản truy tố đối với bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: tài sản đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện nuôi 3 con; văn hóa thấp dẫn đến nhận thức pháp luật hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Bị cáo Trần Thị H thống nhất với lời bào chữa của Luật sư. Trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trân Thị H, luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 30/3/2023, tại bên hông nhà số 628 đường H, Phường H, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 854.810.000 đồng trong cốp xe máy hiệu Honda SH Mode, màu sơn đen - đỏ, biển số: 59F2-262.xx của chị Trần Thị Bạch Y.

Với hành vi nêu trên, xét đã có cơ sở để kết tội bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ

500.000.000 đồng trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Hành vi của bị cáo là bộc phát nhất thời, không có sự chuẩn bị từ trước; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bị hại làm đơn xin bãi nại cho bị cáo nên xét có thể áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, bà Trần Thị Bạch Y không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Đối với số tiền 60.500.000 đồng là tiền cá nhân của Trần Thị H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 01 Điện thoại Sam Sung Note+ màu vàng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 01 áo khoác dài tay màu xanh ngọc; 01 nón bảo hiểm màu đen, sọc trắng vàng; 01 bộ quần áo thun màu trắng có hoa màu hồng; 01 đôi dép mủ màu đen có lỗ; 01 khẩu trang màu xanh đen có dòng chữ Supreme; 01 túi nilon màu đỏ và 01 túi nilon màu đen; 01 ví cầm tay hiệu Lare Boss không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Thị H: 12 (Mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2023.

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị H: số tiền 60.500.000 (Sáu mươi triệu năm trăm ngàn) đồng theo Ủy nhiệm chi số 09/2024 ngày 06/5/2024 của Công an Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; 01(một) ĐTDĐ hiệu Sam Sung Note+ màu vàng, Cơ quan CSĐT Công an Quận S đã niêm phong. Tình trạng hoạt động của máy không kiểm tra (không kiểm tra bên trong niêm phong).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác tay dài màu xanh ngọc; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, sọc trắng vàng; 01 (một) bộ quần áo thun màu trắng có hoa màu hồng; 01 (một) đôi dép mủ màu đen có lỗ; 01 (một) khẩu trang màu xanh đen có dòng chữ Supreme; 01 (một) túi màu đỏ và 01 (một) túi màu đen; 01 (một) ví cầm tay hiệu Lare Boss.

(Vật chứng thu giữ theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/193 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ quốc hội;

Bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại văng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND Tối cao; (1)

- TAND Cấp cao tại TPHCM; (1)

- VKSND TPHCM; (3)

- Cục THADS; (1)

- Sở Tư pháp; (1)

- Trại giam; (1)

- Bị cáo; (1)

- Bị hại; (1)

- Luật sư; (1)

- THAHS; (1)

- PV06 - CA TPHCM; (1)

- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)

- Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 232/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger