Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:232/2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Chính;

2. Ông Trần Văn Chánh.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HS, ngày 22/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Thạch Trung S, sinh năm 1990 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: không. Nơi cư trú: Tổ F, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 4/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Thạch Tùng T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1972. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1990 và có 02 con, sinh năm 2011 và 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, giam giữ từ ngày 01/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt.

2. Ngô Thế L, sinh năm 1983 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Ngô Văn T1, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, giam giữ từ ngày 29/11/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Anh Vũ Văn L1, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Thế L, sinh năm 1983 và Thạch Trung S, sinh năm 1990 quen biết nhau từ trước. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/11/2023, LS đi bộ đến bãi đất trống thuộc tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, biển số 54X-7098 của anh Vũ Văn L1, sinh năm 1971, ngụ tại tổ T, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tại bãi đất không có người trông coi, S rủ L trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý.

S đi đến kiểm tra xe thì thấy cửa xe không khóa, trên xe không có chìa khóa, trên thùng xe phía sau có 01 khung sắt dài khoảng 1,8 mét, rộng 1,4 mét, cao khoảng 1,1 mét. S kêu L cùng nhau đẩy xe đi một đoạn rồi S rút dây điện nguồn ở dưới tay lái xe chập lại và nổ máy xe. Do sợ tiếng ồn bị phát hiện nên S tắt máy xe, hẹn 5 giờ sáng cùng gặp nhau ở quán phở “V”. S chạy xe một mình đến tiệm phế liệu không tên của anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973 thuộc khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai bán khung sắt được số tiền 300 nghìn đồng. Đến 06 giờ cùng ngày, L đi đến quán phở “V” nhưng không gặp S, L đi đến trạm thu phí trên Quốc lộ E thuộc phường T thì gặp S, S nói bán khung sắt được 300 nghìn đồng và rủ L xuống Vũng Tàu bán xe thì L đồng ý. Cả hai sử dụng số tiền 300 nghìn bán khung sắt để mua đồ ăn và đổ xăng đi Vũng Tàu để bán xe. Khi đi đến thành phố V, cả hai ghé bốn tiệm mua bán xe để hỏi bán xe, nhưng do không có giấy chứng nhận đăng ký xe nên không ai mua, SL chạy xe về. Đến khoảng 16 giờ 00 ngày 28/11/2023, S để xe ô tô trên trước nhà không số thuộc Quốc lộ E, khu phố T, phường P, thành phố B, Đồng Nai rồi cả hai về nhà. Đến ngày 29/11/2023 và ngày 01/12/2023, LS đã đến Công an phường P xin đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp xe của anh L1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki BS 54X-7098 và khung sắt do anh Q giao nộp. Tại Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, LS đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Về vật chứng gồm:

- 01 (một) chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, biển số 54X-7098, số máy: F10A-1061762, số khung: DA21TVN-101468 và 01 khung sắt hình chữ nhật dài khoảng 1,8 mét, rộng 1,4 mét, cao khoảng 1,1 mét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu là anh Vũ Văn L1.

- 01(một) nón lưỡi trai màu xanh; 01 (một) quần jean ống dài màu đen hiệu K.Q.J; 01 (một) đôi dép quai ngang màu trắng; 01 (một) áo sơ mi dài màu đen hiệu DEFOXX; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen hiệu JERZEES, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại cho Thạch Trung S vì không liên quan đến vụ án.

- 01 (một) USB chứa dữ liệu điện tử ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 632/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe ô tô tải, biển số 54X-7098 trị giá 20.000.000 đồng; 01 khung sắt hình chữ nhật trị giá 1.000.000 đồng; tổng cộng là 21.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 228/CT-VKS-BH, ngày 12/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố Thạch Trung S, Ngô Thế L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo S từ 16 đến 20 tháng tù; xử phạt bị cáo L từ 14 đến 18 tháng tù; Về án phí các bị cáo phải chịu.

Tại phiên tòa, các bị cáo không phát biểu bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:

Xét thấy, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 27/11/2023, tại tổ A, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Thạch Trung SNgô Thế L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe ô tô tải, biển số 54X-7098 và 01 khung sắt hình chữ nhật, tổng trị giá là 21.000.000 đồng của anh Vũ Văn L1 thì bị phát hiện. Ngày 29/11/2023 và ngày 01/12/2023, LS đến Công an phường P đầu thú và khai nhận hành phạm tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, ban đầu các bị cáo khai L là người rủ S trộm cắp tài sản là không đúng với diễn biến sự việc, không đúng vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Sau đó, các bị cáo thay đổi lời khai, xác định S là người rủ L trộm cắp, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện sự khoan hồng, chính sách nhân đạo của pháp luật. Ngoài ra, Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân tốt, đã ra đầu thú; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân các bị cáo đang bị bệnh, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo và quyết định hình phạt:

Các bị cáo tham gia vụ án vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo S là người rủ rê khởi xướng việc trộm cắp tài sản, là người mang khung sắt trộm cắp đi bán. Các bị cáo cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, do đó bị cáo S có mức án cao hơn bị cáo L.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của từng bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Vũ Văn L1 đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Số tiền bán khung sắt 300.000 đồng, là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, buộc các bị cáo nộp lại tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

+ Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội.

[7] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Việc anh Nguyễn Văn Q mua 01 khung sắt của Ngô Thế LThạch Trung S là tài sản trộm cắp, nhưng anh Q không biết tài sản do LS phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, không xử lý hình sự là phù hợp.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải nộp.

[9] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Thạch Trung S 01 (một) năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày giam giữ 01/12/2023.

Xử phạt bị cáo Ngô Thế L 01 (một) năm về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày giam giữ 29/11/2023.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Buộc các bị cáo Thạch Trung S, Ngô Thế L phải nộp lại 300.000 (ba trăm nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, trong đó mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng để dung vào ngân sách nhà nước.

+ Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Ngô Thế L, Thạch Trung S mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THA DS TP Biên Hòa;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 232/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 232/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger