|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 – 7 – 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
- Ông Lê Đức Thụy.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Long - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 346/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 379/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 354/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thắm, sinh năm 1984; địa chỉ: số nhà 631, tổ 22, ấp 1, xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Quốc Bình, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Tây Thượng, xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thắm trình bày, do mai mối, bà Thắm và ông Bình kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vào ngày 25/9/2009. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Phạm Thị Yến Linh, sinh ngày 03/6/2009. Hiện tại, con chung đang được bà Thắm nuôi dưỡng.
Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, hay cãi nhau. Ông Bình không đi làm phụ kinh tế nuôi con. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2019 cho đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thắm yêu cầu được ly hôn với ông Bình; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Bình cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 210, quyển số 01, ngày 25/9/2009 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị Thắm và ông Phạm Quốc Bình (bản sao); giấy khai sinh số 483/2009 ngày 08/10/2009 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp đối với Phạm Thị Yến Linh (bản sao).
- Bị đơn ông Phạm Quốc Bình đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà Thắm và ông Bình kết hôn, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thắm và ông Bình hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra bất hòa, mâu thuẫn không giải quyết được và không còn sống chung từ tháng 8 năm 2019 đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thắm yêu cầu ly hôn với ông Bình. Bà Thắm, ông Bình không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thắm đối với ông Bình theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Thắm, giao cháu Linh cho bà Thắm tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, do bà Thắm không yêu cầu ông Bình cấp dưỡng nuôi cháu Linh nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thắm đối với ông Bình; bà Thắm được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông Bình không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Lê Thị Thắm khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Quốc Bình. Đồng thời, ông Bình cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Lê Thị Thắm có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phạm Quốc Bình đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Thắm, ông Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Thắm và ông Bình tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Thắm và ông Bình là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà Thắm xác định, trong thời gian chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Bình không chăm lo vợ con, không lo kinh tế để nuôi con, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2019 đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống đến tháng 8 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Bình không chăm lo vợ con, không lo kinh tế để nuôi con, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8 năm 2019 đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông Bình nhưng ông Bình không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà Thắm. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Thắm, ông Bình là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thắm đối với ông Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Bà Thắm xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Phạm Thị Yến Linh, sinh ngày 03/6/2009, hiện con chung đang sinh sống với bà Thắm, bà Thắm yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, con chung đang được bà Thắm chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến ngày 19/6/2024 do cán bộ Tòa án lập, cháu Linh đã có nguyện vọng sống chung với mẹ (bà Thắm) khi cha mẹ ly hôn, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho bà Thắm được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà Thắm không yêu cầu ông Bình cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Bà Thắm xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Thắm phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông Bình không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thắm.
1. Về hôn nhân:
Bà Lê Thị Thắm được ly hôn với ông Phạm Quốc Bình.
Giấy chứng nhận kết hôn số 210, quyển số 01, ngày 25/9/2009 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Lê Thị Thắm và ông Phạm Quốc Bình không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Lê Thị Thắm được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thị Yến Linh, sinh ngày 03/6/2009. Ông Phạm Quốc Bình không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Lê Thị Thắm cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Quốc Bình trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Lê Thị Thắm phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015462 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 13 tháng 5 năm 2024; bà Lê Thị Thắm đã nộp đủ án phí.
Ông Phạm Quốc Bình không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Thời hạn kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm của bà Lê Thị Thắm, ông Phạm Quốc Bình được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy |
Bản án số 231/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 231/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
