Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 231/2023/HS - ST

Ngày: 28/11/2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tùng

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    • + Ông Nguyễn Lương Khoa;

    • + Bà Huỳnh Thị Mỹ Trang.

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/11/2023, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 216/2023/TLST - HS ngày 20/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2023/QĐXXST – HS ngày 17/11/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng N – sinh năm 1997 tại Đồng Nai.

HKTT: Ấp 2, xã TA, huyện VC, tỉnh ĐN.

Nghề nghiệp: không; TĐHV: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.

Cha: Mai Văn Q, sinh năm: 1973;

Mẹ: Nguyễn Thị E, sinh năm: 1969;

Vợ: Lê Thị Kim L - sinh năm 2000

Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2023

Tiền án: 01. Ngày 07/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/7/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 26/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2021.

  • + Ngày 12/8/2020 bị Công an huyện Vĩnh Cửu xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi: “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 782/QĐ-XPHC. Đã nộp phạt xong vào ngày 25/11/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2023 và tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  • - Người bị hại: Trịnh Thị Ng - sinh năm 1982 (vắng mặt)

    Địa chỉ: thôn QN2, phường LA, thành phố T, tỉnh T

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Nguyễn Thị Bạch T - sinh năm 1973 (vắng mặt)

      Địa chỉ: khóm TH, phường MT, thành phố L, tỉnh A

    2. Trần Văn Th - sinh năm 1975 (vắng mặt)

      Địa chỉ: khóm TH, phường MT, thành phố L, tỉnh A

    3. Tạ Thị Mỹ L - sinh năm 1970 (vắng mặt)

      Địa chỉ: khu phố 5, phường XT, thành phố L, tỉnh Đ

(Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 09/7/2023, Nguyễn Trọng N điều khiển xe moto gắn biển số giả 67AA-066.90 chở Lê Thị Kim L từ thành phố Biên Hòa xuống huyện Xuân Lộc với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài.

Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến tiệm sửa xe “Honda 777” của ông Nguyễn Văn L1 sát đường Quốc lộ 1 thuộc ấp Nông Doanh, xã Xuân Định thì N nhìn thấy 01 xe Honda Wave, màu đen biển số 60U1 - 4581 của ông Trần Bá C đang dựng trước cửa tiệm, không có người trông coi nên N đã dừng xe lại, đứng ngoài cảnh giới, còn L đi bộ đến gần xe Honda Wave, màu đen biển số 60U1 - 4581. Thấy trên xe có sẵn chìa khóa, L đã dắt xe đến chỗ N đang đợi. L lên xe đề máy nhưng không nổ nên N đã điều khiển xe moto gắn biển số giả 67AA-066.90, dùng chân đẩy L và xe vừa trộm được tẩu thoát. Đến địa phận thành phố Long Khánh, thấy có tiệm sửa xe nên L dắt xe vào để sửa, còn N thì tiếp tục đi về phòng trọ ở thành phố Biên Hòa. Do khách sửa xe đông, nên L đã dẫn bộ xe đến khu vực phường Xuân Tân, thành phố Long Khánh để tìm nơi sửa xe thì bị ông Trần Bá C đi tìm, phát hiện, đưa về cơ quan Công an.

N và L còn khai nhận vào ngày 02/7/2023 cả hai đã trộm 01 xe Honda Wave, màu xanh biển số 67B1 - 539.61 tại khu nhà trọ ở phường Long Bình, thành phố Biên Hòa rồi mang xe về nhà trọ cất giấu. Đến ngày 07/7/2023 L lượm được 01 biển số xe 67AA-066.90, sau đó N tháo biển số xe 67B1 - 539.61 cất giấu, rồi lắp biển số xe 67AA-066.90 để làm phương tiện trộm cắp tài sản tại xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc.

Do có con nhỏ nên L được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng bỏ trốn, hiện cơ quan điều tra đang tiến hành truy nã.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: giá trị còn lại của xe mô tô biển số Honda Wave, màu đen biển số 60U1 - 4581 (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá là 5.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô Honda Wave, màu đen biển số 60U1 - 4581 là tài sản hợp pháp của ông Trần Bá C. Ông C đã chết do tai nạn giao thông nên bà Trịnh Thị Ng (vợ ông C) được xác định là bị hại. Công an huyện Xuân Lộc đã tiến hành giao trả cho bà Ng.

  • - 01 (một) xe mô tô loại Wave màu xanh biển số 60B1 - 539.61 đang phối hợp điều tra với Công an thành phố Biên Hòa, nên tách ra không xử lý trong vụ án này.

  • - 01 (một) biển số giả 67AA - 066.90.

* Tại bản Cáo trạng số 219/CT – VKSXL ngày 19/10/2023 VKSND huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

* Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Xuân Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Tình tiết tăng nặng: tái phạm. Tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đề nghị mức hình phạt: 16 tháng - 18 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy biển số giả 67AA - 066.90.

* Người bị hại và người làm chứng vắng mặt nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.

* Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo là chính xác, có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe, năng lực và khả năng lao động để kiếm thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh, không tốn mồ hôi công sức nên dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà Trịnh Thị Nga mà còn gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có 01 tiền án, có nhân thân xấu nên áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

[4] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án. Lần phạm tội này là tái phạm. Là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.

[5] Về tang vật vụ án: tịch thu tiêu hủy biển số giả 67AA - 066.90.

[6] Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

[7] Xét ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Xuân Lộc về tội danh, tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khung điều luật áp dụng, nhân thân của bị cáo, loại hình phạt áp dụng và trách nhiệm dân sự phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận. Riêng giá trị chiếc xe Honda Wave, màu đen biển số 60U1 - 4581 của bà Trịnh Thị Ng (5.000.000 đồng) đại diện Viện kiểm sát huyện Xuân Lộc nhận định có giá trị không lớn và xem đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thì Hội đồng xét xử không nhất trí. Bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

[8] Trong quá trình điều tra, truy tố hành vi – quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và các đương sự khác không có ý kiến gì nên hành vi - quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, của các cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 BLHS.

  • * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng N - 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2023.

  • - Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS: tuyên tịch thu tiêu hủy 01 biển số giả 67AA - 066.90. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/10/2023.

  • - Về án phí: áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh,
  • - VKS ND huyện, tỉnh,
  • - Các đương sự,
  • - THA huyện,
  • - Lưu, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2023/HS - ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 231/2023/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger