Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 231/2024/HSST

Ngày: 28/8/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thái Văn Sơn.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 230/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐST-HS ngày 08/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 286/2024/QĐST-HS, ngày 26/8/2024, đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Trung H; Tên gọi khác: không.

Giới tính: N; Sinh năm: 1998; tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh .

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê.

Cha: Lê Hoàng N1, Sinh năm: 1974; Mẹ: Phạm Thị Mộng S. Sinh năm: 1979 (đã chết).

Anh, chị, em ruột: hai người kể bị cáo.

Vợ, con: chưa có.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Năm 2016, bị Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là TP .), TP . xử phạt 07 tháng 23 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 24/2016/HSST ngày 07/03/2016 và được trả tự do ngay tại phiên tòa (do thời hạn phạt tù được tuyên bằng với thời gian tạm giam). (không tính án tích)
  • Năm 2017, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là TP .), TP . xử phạt 03 năm tù giam, về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 327/2017/HSST ngày 31/10/2017, chấp hành án tại Trại giam P – Bộ C. Ngày 17/10/2019, chấp hành xong hình phạt tù. (đã xóa án tích)
  • Năm 2020, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1 theo Quyết định số 430/2020/QĐ-TA ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là TP .), TP . thời hạn 21 tháng. Ngày 28/04/2022, chấp hành xong thời gian cai nghiện

Bị cáo bị giam giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2024 đến nay.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trung H bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine từ cuối năm 2013. Năm 2020, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1, thời hạn 21 tháng. Đến tháng 04/2022, chấp hành xong thời gian cai nghiện. Khoảng đầu tháng 04/2024, H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) giới thiệu tại khu vực cầu vượt L thuộc thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có đối tượng bán ma túy nên H tìm đến mua. H trực tiếp gặp người bán ma túy để thỏa thuận, mua chất ma túy về sử dụng.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/05/2024, H thuê xe ôm đi từ nhà tại ấp M, xã P, huyện C, TP . đến khu vực cầu vượt L thuộc TP ., Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua 600.000 đồng ma túy đá cùng với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. H giao số tiền 600.000 đồng, rồi nhận lại 01 gói nylon chứa ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, H cất giấu trong túi quần bên phải phía trước đang mặc. Sau đó, H thuê xe ôm đi về nhà. Khi về đến nhà, H lấy gói nylon chứa ma túy đá và bộ D sử dụng ma túy cất giấu ở trong phòng ngủ của H.

Khoảng 06 giờ 00' ngày 06/05/2024, H lấy gói nylon chứa ma túy đá chiết một ít ma túy vào bộ dụng cụ rồi sử dụng một mình cho đến hết. Phần ma túy còn lại trong gói nylon, H để trên nền gạch cạnh bộ dụng cụ ngay trong phòng ngủ rồi nằm nghỉ ngơi.

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 06/05/2024, Công an xã P, huyện C kiểm tra hành chính căn nhà không số, đường F thuộc ấp M, xã P, huyện C, TP . do ông Lê Trung T (em ruột của H) làm chủ hộ. Khi kiểm tra đến phòng ngủ của H thì phát hiện Lê Trung H và phát hiện trên nền gạch cách vị trí H ngồi khoảng 01 mét có 01 gói nylon chứa tinh thể và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ tang vật gồm: 01 gói nylon chứa tinh thể, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động hiệu Realme.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Trung H tại ấp M, xã P, huyện C, TP ., kết quả không thu giữ gì. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Trung H là dương tính với ma túy tổng hợp

Theo kết luận giám định số: 5602/KLGĐ-H ngày 11/5/2024 của Phòng K thuộc Công an thành phố H kết luận: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Trung H và hình dấu Công an xã P, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9937g, loại Methamphetamine. (Bút lục 56)

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 1716/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (H dùng để sử dụng trái phép chất ma túy);
  • + 01(một) điện thoại di động hiệu Realme có số imei 1: 865071042505615, số imei 2: 865071042505607.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 221/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Lê Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên công tố luận tội.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/5/2024, tại nhà không số thuộc ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an xã P, huyện C phát hiện bắt quả tang Lê Trung H đang tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9937g, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Trung H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và trong hồ sơ vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Lê Trung H từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Đối với Lê Trung T không biết việc bị cáo H tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T là có căn cứ.

Đối với người nam thanh niên bán trái chép chất ma túy cho Lê Trung H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 1716/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (H dùng để sử dụng trái phép chất ma túy).
  • - Hoàn trả cho bị cáo 01(một) điện thoại di động hiệu Realme có số imei 1: 865071042505615, số imei 2: 865071042505607.

Lời nói sau cùng của bị cáo: mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo án nhẹ nhất để bị cáo sớm về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số: 5602/KLGĐ-H ngày 11/5/2024 của Phòng K thuộc Công an thành phố H kết luận: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Trung H và hình dấu Công an xã P, huyện C (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9937g, loại Methamphetamine. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Trung H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo H là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có một hình phạt tương xứng.

Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án; Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi lượng hình là có cơ sở chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, mới phạm tội thì bị bắt nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở.

Đối với Lê Trung T không biết việc bị cáo H tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người nam thanh niên bán trái chép chất ma túy cho Lê Trung H, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục làm rõ, xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 1716/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển; Vật chứng không có giá trị sử dụng, nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Realme có số imei 1: 865071042505615, số imei 2: 865071042505607, đã qua sử dụng; Không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần hoàn trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 221/CT-VKS ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Lê Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lê Trung H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 1716/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Hoàn trả lại cho bị cáo H 01(một) điện thoại di động hiệu Realme có số imei 1: 865071042505615, số imei 2: 865071042505607, đã qua sử dụng.

Vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 173/PNK ngày 03/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 101)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

- Án phí HS-ST: Bị cáo Lê Trung H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Trung H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Phòng PC 27;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ. (18b)

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thái Văn Sơn

Hội thẩm nhân dân

Nguyễn Ngọc Cảnh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 231/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger