Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 233/2024/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Văn V, sinh năm: 1993, tại Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trương T, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị S, sinh năm 1955; bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị em; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/01/2014, Công an huyện M, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Ngọc Giáng S1, sinh năm 2003.
  2. Địa chỉ: B Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

  3. Chị Lâm Thụy Hoàng Y, sinh năm 2004.
  4. Địa chỉ: B Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm, muốn có tiền tiêu xài nên Trương Văn V nảy sinh ý định đột nhập vào nhà người khác, trộm tài sản để bản lấy tiến xài. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, Trương Văn V phát hiện cổng nhà B Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T không khoá, V mở cửa vào bên trong nhà đang bị tháo dỡ, V leo lên cổng trèo lên trên nhà bên cạnh, đi qua các nhà, phát hiện sân sau của Nhà số B, Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không có khung sắt nên trèo xuống sân sau, mở cửa sổ phòng bếp tầng trệt, vào trong nhà, theo cầu thang lên lầu một, mở cửa phòng bên phải cạnh cầu thang thấy không khoá nên lẻn vào trong. Khi vào trong phòng, V phát hiện chị Nguyễn Ngọc Giáng S1 (sinh năm 2003) đang ngủ trên giường. V tìm được 56.000 đồng trong túi áo khoác và đi lại đầu giường lấy điện thoại di động hiệu iphone XS max, màu trắng, 64 GB bỏ vào túi quần. V có ý định giao cấu với chị S1 nên leo lên giường, quỳ sát đầu gối chị S1, lúc này chị S1 tỉnh giấc ngồi dậy, V dùng hai tay đè ngực, dùng tay bóp vào cổ của chị S1 uy hiếp để chị S1 nằm im, đe dọa và yêu cầu chị S1 tháo đôi bông tai đang đeo, chị S1 tháo được một bên tai còn một bên không tháo được nên V dùng tay tháo rồi bỏ vào túi quần. Sau đó, V dùng tay cởi quần của chị S1 ra, dùng tay phải bóp ngực chị S1 và dùng trái sờ âm đạo chị S1, hôn vào ngực chị S1, chị S1 chống cự lại và dùng remote máy lạnh đánh mạnh vào đầu của V nên V dừng lại và bỏ chạy ra ngoài tẩu thoát theo đường đột nhập. Sau khi lấy được tài sản, V đem điện thoại bán ở Cửa hàng Đ, địa chỉ: E đường L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Đinh Mạnh H là chủ cửa hàng trực tiếp thu mua với giá 1.500.000 đồng. Đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, V đem bán tại Cửa hàng kinh doanh Vàng & Cầm đồ M tại địa chỉ: D đường L, phường H, thành phố T. Thành phố Hồ Chí Minh với giá 800.000 đồng.

Ngày 09/3/2023, chị Nguyễn Ngọc Giáng S1 đến Công an phường T trình báo.

Bản Kết luận định giá tài sản số 35-KV2/KLĐG-HDĐGTS ngày 20/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, dung lượng 64GB trị giá: 4.617.000 đồng.
  • 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng trang sức 61% trọng lượng 0,3 chỉ, trị giá: 1.210.620 đồng.

Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt của chị S1 là 5.827.620 đồng.

Qua công tác xác minh, ngày 12/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra lệnh bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Văn V.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, Trương Văn V còn khai nhận: Khoảng 02 giờ ngày 06/3/2023, Trương Văn V đi đến Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T tìm nhà sơ hở để trộm tài sản. Khi đến Nhà số B, Đường số B, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố H do chị Lâm Thụy Hoàng Y (sinh năm 2004) làm chủ, trèo lên cổng nhà, leo qua nhà bên cạnh, trèo lên trên nóc nhà rồi leo qua tầng 2 Nhà số B, mở cửa sổ phòng giặt đồ trèo vào, đi theo cầu thang xuống lầu 1, mở cửa phòng ngủ ở lầu 1 vào bên trong lén lút lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad Gen6, 9.7 inch, Wifi, màu trắng, dung lượng 128 GB và 01 Apple pencil Gen1 cầm trên tay, V tiếp tục đi lại bàn làm việc lén lút lấy trộm một phong bì lì xì màu đỏ, bên trong có 100 USD và thoát ra ngoài theo đường cũ. V mang máy tính bảng viết Apple pencil trên bán cho cửa hàng điện thoại Mạnh H tại địa chỉ: Số C L, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được 700.000 đồng. Sau đó anh H đã bán tài sản trên cho người không rõ lai lịch với giá 1.200.000 đồng. Số tiền ngoại tệ 100 USD, đổi cho cửa hàng V1Cầm đồ Ngọc Huệ P tại địa chỉ: Số C L, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh được 2.300.000 đồng và đã tiêu xài hết.

Bản Kết luận định giá tài sản số 154-KV2/KLÐG-HDĐGTS ngày 27/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận:

  • 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad Gen6, 9.7 inch, Wifi, màu trắng, dung lượng 128 GB trị giá: 4.650.000 đồng.
  • 01 Apple pencil Gen1 trị giá: 1.300.000 đồng.

Văn bản số 45/VCB-TÐU.KT ngày 20/3/2023 của Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh T1 cung cấp thông tin về tỉ giá USD/VND ngày 06/3/2023 là 23.870 đồng, 100 USD là 2.387.000 đồng

Tổng trị giá chiếm đoạt là: 8.337.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, dung lượng 64GB.
  • 01 (một) đôi bông bằng kim loại vàng trang sức 61% trọng lượng 0,3 chỉ.
  • 01 (một) áo thun nữ tay ngắn sọc ngang có màu trắng đen.
  • 01 (một) áo ngực nữ màu xám trắng.
  • 01 (một) quần sọc màu hồng nhạt có dạy kéo và nút cái.
  • 01 (một) quần lót nữ màu trắng.

Đây là tài sản của chị S1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Ngọc Giáng S1.

  • 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad Gen6, 9.7 inch, Wifi, màu trắng, dung lượng 128 GB; 01 (một) Apple pencil Gen1 (chưa thu hồi được).

Tại Cáo trạng số: 234/CT-VKSTP.TĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trương Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 và tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 168; khoản 1 Điều 141; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 57; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) tù về tội “Cướp tài sản” và từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp hình phạt của ba tội là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023.
  • Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho chị Lâm Thụy Hoàng Y giá trị tài sản đã chiếm đoạt.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định và không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo xin lỗi bị hại và rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận giám định, kết luận định giá, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Ngày 06/3/2023, khi đội nhập vào Nhà số B Đường số B, Khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, V đã lấy trộm được số tiền 100 USD; 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad Gen6, 9.7 inch, Wifi, màu trắng, dung lượng 128 GB; 01 Apple pencil Gen1 của chị Lâm Thụy Hoàng Y có tổng giá trị tài sản là 8.337.000 đồng. Ngày 09/3/2023, V tiếp tục đột nhập vào Nhà số B, Đường số B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do chị Nguyễn Ngọc Giáng S1 thuê trọ, V chiếm đoạt 56.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, dung lượng 64GB của chị S1. Sau đó, V nhìn thấy chị Nguyễn Ngọc Giáng S1 đang nằm ngủ trên giường nên V đã dùng vũ lực, bóp cổ, đánh, lấy đôi bông tai trên người chị S1, cởi quần áo của chị S1 và dùng tay sờ vào âm đạo của chị S1 nhằm giao cấu trái với ý muốn của chị S1.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, xâm phạm quyền thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ các hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà người khác rồi lén lút lấy trộm tài sản, sau đó còn có hành vi dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản và thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 173; tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 và tội “Hiếp dâm”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với anh Đinh Mạnh H có hành vi mua 01 máy tính bảng Apple iPad, viết apple pencil, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSmax của V lấy trộm được nhưng anh H không biết tài sản trên do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Phan Thị Chăm P1 là chủ cửa hàng V1Cầm đồ Ngọc Huệ P mua 100 USD của V lấy trộm được với giá 2.300.000 đồng nhưng chị P1 không biết tài sản trên do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

  • Bị cáo trộm cắp tài sản có tổng giá trị là 8.337.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo cướp tài sản có tổng trị giá là 5.883.620 đồng, không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo thực hiện hành vi hiếp dâm, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội hiếp dâm thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 57 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến hoàn cảnh, tính chất, mức độ thực hiện ý định phạm tội và lý do bị cáo không thể thực hiện được đến cùng hành vi hiếp dâm để quyết định mức hình phạt tương xứng.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm rất nghiêm trọng. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu trắng, dung lượng 64GB; 01 (một) đôi bông bằng kim loại vàng trang sức 61% trọng lượng 0,3 chỉ; 01 (một) áo thun nữ tay ngắn sọc ngang có màu trắng đen; 01 (một) áo ngực nữ màu xám trắng; 01 (một) quần sọc màu hồng nhạt có dạy kéo và nút cái; 01 (một) quần lót nữ màu trắng: Xét đây là tài sản của chị Nguyễn Ngọc G Sương nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị S1 là có căn cứ.
  • Đối với 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad Gen6, 9.7 inch, Wifi, màu trắng, dung lượng 128 GB; 01 (một) Apple pencil Gen1 là tài sản của chị Lâm Thụy Hoàng Y nhưng chưa thu hồi được.

[6] Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

  • Buộc bị cáo bồi thường cho chị Lâm Thụy Hoàng Y số tiền 8.337.000 đồng là giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt.
  • Chị Nguyễn Ngọc Giáng S1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội “Cướp tài sản” và tội “Hiếp dâm”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 168; khoản 1 Điều 141; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 1 Điều 57; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Trương Văn V: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả ba tội là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

Buộc bị cáo bồi thường cho chị Lâm Thụy Hoàng Y số tiền 8.337.000 (tám triệu, ba trăm ba mươi bảy nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 416.850 (bốn trăm mười sáu nghìn, tám trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản, cướp tài sản, hiếp dâm

  • Số bản án: 231/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản, Cướp tài sản, Hiếp dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản", "Cướp tài sản", "Hiếp dâm"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger