TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/DS-ST Ngày 22-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
- Ông Phan Văn Cường.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 491/2024TLST-DS ngày 26/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2024/QĐXXST-DS ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1; địa chỉ: Số H L, phường L, Quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Thế V, sinh năm 1990; địa chỉ liên hệ: Tầng A, toà nhà ACM, số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/5/2024); (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Huy H, sinh năm 1995; địa chỉ: Số H khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/6/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP V1 (Ngân hàng V2) và ông Vũ Huy H có ký Hợp đồng cho vay số: LN2105173744837 ký ngày 20/05/2021 với nội dung: Ngân hàng V2 cho ông Vũ Huy H vay số tiền 357.000.000 đồng; thời hạn cho vay: 96 tháng (từ ngày 28/05/2021 đến ngày 28/05/2029); Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô hiệu HYUNDAI, Accent tiêu chuẩn, 1.4L, MT sản xuất mới 100%; Lãi suất 6.8%/năm cố định trong 12 tháng đầu tiên và định kỳ điều chỉnh 03 (ba) tháng/01 lần. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Khoản vay có tài sản bảo đảm là xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, biển số đăng ký: 61A-942.81, số máy: G4LCLF723686, số khung: RLUA641BAMN059021 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61012761 do Phòng C Công an tỉnh B cấp ngày 26/05/2021 cho ông Vũ Huy Huỳnh. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật theo Hợp đồng thế chấp số LN2105173744837 ngày 20/05/2021.
Thực hiện theo Hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng V2 đã giải ngân cho ông Vũ Huy H số tiền vay 357.000.000 đồng theo giấy đề nghị giải ngân ngày 20/5/2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Huy H đã thanh toán được cho Ngân hàng V2 tổng số tiền 4.929.483 đồng, trong đó: Nợ gốc 3.720.002 đồng và nợ lãi 1.209.481 đồng; Kể từ ngày 15/07/2021 ông Vũ Huy H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận nên khoản vay của ông H đã chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 22/7/2024, ông Vũ Huy H còn nợ lại 535.672.654 đồng, trong đó nợ gốc: 353.279.998 đồng và nợ lãi: 182.392.656 đồng. Vì vậy, Ngân hàng V2 yêu cầu ông Vũ Huy H thanh toán toàn bộ số tiền nợ và tiền lãi phát sinh từ ngày 23/7/2024 cho đến khi trả xong khoản nợ. Trường hợp ông H không thanh toán được nợ thì Ngân hàng V2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, biển số đăng ký: 61A-942.81, số máy: G4LCLF723686, số khung: RLUA641BAMN059021 theo Hợp đồng thế chấp số LN2105173744837 ngày 20/05/2021.
- Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 29/6/2024 bị đơn ông Vũ Huy H trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của đại diện nguyên đơn, ngày 20/5/2021 ông H và Ngân hàng V2 có ký Hợp đồng cho vay số: LN2105173744837, Ngân hàng V2 đã giải ngân cho ông H số tiền vay 357.000.000 đồng theo giấy đề nghị giải ngân ngày 20/5/2021. Khoản vay có tài sản bảo đảm là xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, biển số đăng ký: 61A-942.81, số máy: G4LCLF723686, số khung: RLUA641BAMN059021 thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Huy H theo Hợp đồng thế chấp số LN2105173744837 ngày 20/05/2021 và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định.
Quá trình sử dụng vốn vay, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng V2 tổng số tiền 4.929.483 đồng, trong đó nợ gốc 3.720.002 đồng và nợ lãi là 1.209.481 đồng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông H không thanh toán được nợ cho Ngân hàng V2. Tính đến ngày 22/7/2024, ông H còn nợ Ngân hàng V2 tổng số tiền 535.672.654 đồng, trong đó nợ gốc: 353.279.998 đồng và nợ lãi: 182.392.656 đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V2 thì ông H đồng ý. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn, ông H xin Ngân hàng V2 giảm lãi và cho ông H được trả dần hàng tháng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp ông H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì ông H đồng ý cho Ngân hàng V2 phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là hợp lệ.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng tín dụng và nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền vay 357.000.000 đồng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1 là ông Phạm Thế V và bị đơn ông Vũ Huy H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 và 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Xét, Hợp đồng cho vay số: LN2105173744837 ngày 20/05/2021 giữa Ngân hàng V2 và ông Vũ Huy H đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Vũ Huy H đã nhận được số tiền vay 357.000.000 đồng theo giấy đề nghị giải ngân ngày 20/5/2021. Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông H đã thanh toán được cho Ngân hàng V2 tổng số tiền 4.929.483 đồng (trong đó nợ gốc 3.720.002 đồng và nợ lãi là 1.209.481 đồng). Đến thời điểm Ngân hàng V2 khởi kiện, ông H không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn. Bản thân ông H cũng thống nhất về việc ký kết hợp đồng tín dụng cũng như số tiền còn nợ của Ngân hàng V2. Do tình hình kinh tế khó khăn nên ông H xin Ngân hàng V2 cho trả dần hàng tháng. Tuy nhiên, đại diện Ngân hàng V2 không đồng ý. Như vậy, bản thân ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận tại Khoản 6, Khoản 7 Điều 2 của Hợp đồng cho vay nên Ngân hàng V2 yêu cầu ông H phải thanh toán nợ tính đến ngày 22/7/2024 là 535.672.654 đồng, trong đó: nợ gốc: 353.279.998 đồng, nợ lãi: 182.392.656 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ chấp nhận.
[3] Xét, Hợp đồng thế chấp số LN2105173744837 ngày 20/05/2021 giữa Ngân hàng V2 và ông Vũ Huy H, việc thế chấp thể hiện sự tự nguyện của các bên, được ký kết đúng trình tự, thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Ông H đã dùng tài sản là xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, biển số đăng ký: 61A-942.81, số máy: G4LCLF723686, số khung: RLUA641BAMN059021 do ông H đứng tên để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Do đó, trường hợp ông H không thanh toán được nợ thì Ngân hàng V2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Huy H phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên tổng số tiền phải trả cho Ngân hàng V2 theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (V2) đối với ông Vũ Huy Huỳnh.
- Buộc ông Vũ Huy H thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng cho vay số: LN2105173744837 ngày 21/5/2021 tính đến ngày 22/7/2024 là 535.672.654đ (năm trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi tư đồng), trong đó:
- + Nợ gốc: 353.279.998đ (ba trăm năm mươi ba triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng);
- + Nợ lãi: 182.392.656đ (một trăm tám mươi hai triệu ba trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng).
Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 23/7/2024 cho đến khi ông Vũ Huy H trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: LN2105173744837 ngày 20/5/2021.
- Trường hợp ông Vũ Huy H không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, biển số đăng ký: 61A-942.81, số máy: G4LCLF723686, số khung: RLUA641BAMN059021 do ông Vũ Huy H đứng tên theo Hợp đồng thế chấp số LN2105173744837 ngày 20/05/2021.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Huy H phải nộp 25.426.906đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm lẻ sáu đồng). Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 12.529.883đ (mười hai triệu năm trăm hai mươi chín nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001100 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 231/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 231/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
