Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – AN GIANG

Bản án số: 231/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 15-12-2025

“Tranh chấp ly hôn và chia tài

sản khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng

2. Ông Nguyễn Văn Đạt

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ý là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về ly hôn và chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phương B, sinh ngày 17/5/1981; Căn cước công dân số: [...]; Ngày cấp: 14/08/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, có mặt.

Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh ngày 07/7/1978; Căn cước công dân số: [...]; Ngày cấp: 05/10/2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Tống Thị Đ (tên gọi khác: Lắm), sinh năm 1978, có đơn vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.

  3. Bà Huỳnh Thị H (tên gọi khác: Tư L1), sinh năm 1976, có đơn vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.

  5. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976, có đơn vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Tổ H, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.

  7. Bà Lưu Thị C, sinh năm 1987, có đơn vắng mặt.
  8. Địa chỉ: Tổ B, ấp X, xã K, tỉnh An Giang.

  9. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1953, có đơn vắng mặt.
  10. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án của nguyên đơn ông Huỳnh Phương B trình bày:

Về hôn nhân: Ông Huỳnh Phương B và bà Lê Thị L chung sống với nhau từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/3/2010, nguyên nhân ly hôn do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hiện nay tình cảm không thể hàn gắn được nên ông xin được ly hôn với bà L.

Về con chung: Có hai người con chung tên Huỳnh Minh T1, sinh ngày 01/01/2002 và Huỳnh Minh H1, sinh ngày 04/02/2007, hiện nay đã trưởng thành (18 tuổi), hai con đã đi làm, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu toà án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Theo bà L khai vợ chồng có tạo dựng được 02 chiếc ghe là không đúng vì là ghe của cha ông cho mượn biển số ghe CM-91346-TS, nên ông không đồng ý chia. Khi hai vợ chồng sống ly thân có thỏa thuận giao cho bà L 01 chiếc ghe (không có giấy tờ) nhưng bà L mượn biển số ghe CM-6072 -TS của em ông gắn vào chiếc ghe không có giấy tờ chia cho bà L, nay bà L đã bán.

Ông B thừa nhận vợ chồng có tạo dựng được một số vàng gồm vàng 18K là 9,2 chỉ (01 cọng dây chuyền vàng 18K và 01 chiếc nhẫn vàng 18K). Nay số vàng này ông đã bán được số tiền 38.000.000đồng và ông không đồng ý chia số tiền bán vàng cho bà L vì khi đó thỏa thuận đứng ra trả hết nợ vay. Tại phiên tòa ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Nợ số tiền 275.000.000đồng, gồm nợ ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền 40.000.000 đồng; nợ bà Lưu Thị C số tiền 35.000.000đồng; nợ tiền dầu ông T 160.000.000 đồng; nợ bà L2 số tiền 30.000.000 đồng; nợ bà Tư L1 số tiền 10.000.000 đồng, ông yêu cầu chia đôi các khoản nợ trên. Tại phiên tòa ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông B khai tự đứng ra trả các khoản nợ trên.

Theo bản tự khai và những lời khai tại Toà án bị đơn bà Lê Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Bà thừa nhận ông B trình bày về hôn nhân là đúng và bà đồng ý ly hôn với ông Huỳnh Phương B.

Về con chung: Có hai người con chung tên Huỳnh Minh T1, sinh ngày 01/01/2002 và Huỳnh Minh H1, sinh ngày 04/02/2007, hiện nay đã trưởng thành (18 tuổi), hai con đã đi làm, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu toà án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà có tạo dựng được 02 chiếc ghe, một chiếc mua năm 2023 có biển số CM-91346-TS với giá 200.000.000 đồng và một chiếc mua ngày 18/4/2014 có biển số CM-6072-TS giá 53.000.000 đồng, hiện nay ông B đang quản lý sử dụng chiếc ghe CM-91346-TS, bà quản lý sử dụng chiếc CM-6072-TS, bà yêu cầu toà án xem xét giải quyết đối với hai tài sản này.

Ngoài ra, còn có một số vàng 18K gồm 1,3 cây (gồm một sợi dây chuyền 01(một) lượng và một chiếc nhẫn 03 chỉ), giá vàng hiện nay khoảng 7.500.000 đồng/chỉ, bà yêu cầu ông B trả lại cho bà số vàng này.

Về nợ chung: Nợ số tiền 205.000.000 đồng, nợ tiền dầu ông T 160.000.000 đồng; nợ bà L2 35.000.000 đồng; nợ bà Tư L1 10.000.000 đồng. Bà yêu cầu ông B có trách nhiệm trả các khoản nợ này.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày: Năm 1998, ông có cho vợ chồng bà L ông B vay số tiền 80.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, ông B bà L có trả lãi cho ông được 03 tháng, sau đó ông yêu cầu trả lại vốn gốc và ông B bà L đã trả hết nợ này. Ông cũng đã huỷ bỏ giấy nợ giữa hai bên nên ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại bản tự khai ngày 14/7/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị C trình bày: Vào khoảng năm 2023 bà có cho vợ chồng ông B, bà L vay số tiền 35.000.000đồng, sau đó khoảng 05 tháng đến 06 tháng ông B trả hết số nợ này cho bà, hiện nay ông B bà L không có nợ bà tiền gì nên bà đề nghị Toà án không đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Tại bản tự khai ngày 14/7/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông với vợ chồng ông B bà L có mua bán dầu qua lại khoảng hơn 10 năm nay, ông B mua dầu đi ghe hình thức gối đầu, hiện nay ông B bà L còn nợ ông số tiền 120.000.000đồng nhưng do chỗ thân tình nên ông không yêu cầu ông B bà L trả cho ông số tiền này, để ông B trả dần nếu sau này hai bên có tranh chấp ông sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/10/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị H trình bày: Khoảng hơn một năm trước bà có cho bà L và ông B vay số tiền 10.000.000đồng, sau đó khoảng 10 ngày đến 15 ngày sau ông B đem tiền đến trả hết nợ cho bà, hiện nay ông B bà L không còn nợ khoản tiền nào và bà đề nghị Toà án không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/10/2025 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tống Thị Đ trình bày: Trước đây bà có cho bà L vay tiền nhiều lần với tổng số tiền 35.000.000đồng nhưng sau đó ông B xin trả dần mỗi tháng 3.000.000đồng, hiện còn nợ bà số tiền 11.000.000đồng. Nay bà đồng ý để cho ông B trả dần cho đến khi hết nợ, bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án và đề nghị Toà án không đưa bà vào tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán cần khắc phục thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phương B và ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa ông B và bà L; Về con chung: không yêu cầu nên miễn xét; Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên miễn xét. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Bị đơn bà Lê Thị L có nơi cư trú tại: Tổ D, ấp H, xã K, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 35 (sửa đổi bổ sung theo khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15), điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - An Giang. Đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn và chia tài sản khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng đến nay bà Lê Thị L vẫn vắng mặt và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lưu Thị C, bà Huỳnh Thị H, ông Nguyễn Văn T, bà Tống Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về áp dụng pháp luật: Ông Huỳnh Phương B và bà Lê Thị L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/3/2010 và được Ủy ban nhân dân thị trấn S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 49/2010. Do đó, hôn nhân của ông B và bà L đã tuân thủ đúng quy định pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[4] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông B và bà L là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến khoảng năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh những mâu thuẫn với nhau về quan điểm sống, kinh tế, hiện nay ông bà không còn sống chung nhà và chăm sóc lẫn nhau cho thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy hôn nhân giữa ông B và bà L có nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, đồng thời trong quá trình giải quyết ông B và bà L đều có ý kiến ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông B và bà L là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về con chung: Có hai người con chung tên Huỳnh Minh T1, sinh ngày 01/01/2002 và Huỳnh Minh H1, sinh ngày 04/02/2007, hiện nay đã trưởng thành (18 tuổi), hai con đã đi làm, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Đối với tài sản chung: Vợ chồng ông B bà L có tạo dựng được 02 chiếc ghe, một chiếc mua năm 2023 có biển số CM-91346-TS với giá 200.000.000 đồng và một chiếc mua ngày 18/4/2014 có biển số CM-6072-TS giá 53.000.000 đồng, hiện nay ông B đang quản lý sử dụng chiếc ghe CM-91346-TS, bà quản lý sử dụng chiếc CM-6072-TS, bà L yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với hai tài sản này. Ngoài ra, còn có một số vàng 18K gồm 1,3 cây (gồm một sợi dây chuyền 01 lượng và một chiếc nhẫn 03 chỉ), giá vàng hiện nay khoảng 7.500.000 đồng/chỉ, bà yêu cầu ông B trả lại cho bà số vàng này.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà L có ý kiến chia đôi tài sản chung, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo số: 35/2025/TB-TA ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang về việc thực hiện thủ tục phản tố hợp lệ để đương sự thực hiện quyền yêu cầu phản tố trong vụ án này nhưng đương sự không có làm đơn yêu cầu và không nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa ông B cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung trong vụ kiện này nên Hội đồng xét xử miễn xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[7] Đối với nợ chung: Vợ chồng ông B bà L có nợ chung gồm nợ ông Nguyễn Văn Đ1 số tiền 80.000.000đồng; nợ bà Lưu Thị C số tiền 35.000.000đồng; nợ tiền dầu ông Nguyễn Văn T 120.000.000đồng; nợ bà Tống Thị Đ (Lắm) số tiền 35.000.000đồng; nợ bà Huỳnh Thị H (T) số tiền 10.000.000đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà L có ý kiến chia đôi nợ chung, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo số: 35/2025/TB-TA ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang về việc thực hiện thủ tục phản tố hợp lệ để đương sự thực hiện quyền yêu cầu phản tố trong vụ án này nhưng đương sự không có làm đơn yêu cầu và không nộp tạm ứng án phí theo quy định pháp luật.

Đối với khoản nợ vay của ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lưu Thị C và bà Huỳnh Thị H. Qua xem xét hồ sơ cho thấy ông Đ1, bà C, bà H cho biết vợ chồng ông B, bà L có vay nợ của các ông bà và ông B đã đứng ra hết nợ vay cho ông Đ1, bà C, bà H, hiện nay vợ chồng ông B bà L không có nợ khoản tiền nào với các ông bà và ông bà cũng không có yêu cầu gì. Đồng thời, tại phiên Tòa ông B cũng xác nhận đã trả hết nợ vay cho ông bà, ông B không có yêu cầu bà L phải có nghĩa vụ trả lại số tiền mà ông B đã trả cho ông Đ1, bà C, bà H và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không xem xét yêu cầu này.

Đối với khoản nợ vay của bà Đ thì bà Đ khai vợ chồng ông B bà L có vay số tiền 35.000.000đồng, trong quá trình vay đến nay thì vợ chồng ông B bà L đã được một số nợ vay và hiện nay còn nợ lại số tiền 11.000.000đồng, bà Đ đồng ý cho ông B trả dần cho đến khi hết số nợ vay này và không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện này. Mặt khác, tại phiên Tòa ông B cũng đồng ý một mình trả khoản nợ này cho bà Đ, không yêu cầu L cùng với ông trả nợ cho bà Đ và ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ của bà Đ trong vụ kiện này. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không xem xét yêu cầu này, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

Đối với khoản nợ tiền dầu của ông Nguyễn Văn T thì ông T khai vợ chồng ông B mua dầu đi ghe hình thức gối đầu, ông B bà L còn nợ ông số tiền 120.000.000đồng, ông đồng ý cho ông B trả dần hết số nợ này, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ tiền dầu trong vụ kiện này. Mặt khác, tại phiên Tòa ông B cũng đồng ý một mình trả khoản nợ này cho ông T, không yêu cầu bà L cùng với ông trả nợ cho ông T và ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết số nợ của ông T trong vụ kiện này. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Án phí HNGĐ-ST là 150.000đồng, mỗi bên phải chịu ½ án phí do ông B và bà L thuận tình ly hôn trước khi Tòa án mở phiên tòa nên án phí được giải quyết theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 (sửa đổi bổ sung theo khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15), điểm a khoản 1 Điều 39 điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử.

  1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Phương B và bà Lê Thị L.
  2. Về con chung: Có hai người con chung tên Huỳnh Minh T1, sinh ngày 01/01/2002 và Huỳnh Minh H1, sinh ngày 04/02/2007. Ông B bà L đều không yêu cầu xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử miễn xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
  4. Về nợ chung: Không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử miễn xét, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Án phí HNGĐ-ST là 150.000đồng, mỗi bên phải chịu ½.

    Bà Lê Thị L phải nộp án phí là 75.000đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng).

    Ông Huỳnh Phương B phải nộp án phí là 75.000đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009446 ngày 27/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh A). Theo đó, hoàn trả lại số tiền 225.000đồng (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho ông Huỳnh Phương B.

  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/12/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 8 – An Giang;
  • - THADS tỉnh An Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu tập án, Hồ sơ;
  • - Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 231/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông B xin ly hôn bà L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger