|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2025/DS-PT Ngày 15-4-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tấn.
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền;
Ông Huỳnh Văn Luật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 601/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 565/2024/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐPT-DS ngày 03 tháng 01/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 23/2025/QĐPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V); địa chỉ: Tầng A và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm: 1994; có mặt.
- Ông Nguyễn Hải T, sinh năm: 1992; vắng mặt.
- Ông Phan Hồng H, sinh năm: 1993; vắng mặt.
- Ông Vũ Văn T1, sinh năm: 1984; vắng mặt.
Cùng địa chỉ liên hệ: tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S, số A P, Phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền.
- Bị đơn: Ông Trần Hoàng A, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ H, khu phố A, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2: Ông Trần Hòa A1, sinh năm 1975; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/3/2024); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị N1, sinh năm 1962; có đơn yêu cầu giải quyết kháng cáo vắng mặt.
- Ông Trần Văn N2, sinh năm 1963; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: khu phố A, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2; người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/3/2021, Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là V) có ký với ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 Hợp đồng tín dụng số 6581250.21 với nội dung: VIB cho ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 vay số tiền 3.000.000.000 đồng, mục đích vay vốn: Bù đắp tiền mua bất động sản tại thửa đất số 3193, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại phường C, thị xã (này là thành phố) B, tỉnh Bình Dương. Thời hạn vay 360 tháng, tính từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân đến 10/3/2051. Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 11,5%/năm. Lãi suất này sẽ được V chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ cộng biên độ 3,1%/năm. Phương thức hoàn trả khoản tín dụng gốc, thời gian gia hạn: không; hàng tháng trả 8.333.000 đồng cùng với ngày trả lãi, số tiền gốc còn lại trả vào kỳ cuối cùng. Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 18, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 18/4/2021. Ngày trả phí: Theo quy định của V từng thời kỳ.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: Thửa đất số 3193, tờ bản đồ số: 32, tọa lạc tại phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 673288, số vào sổ cấp GCN: CS12856 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/6/2019, cập nhật thay đổi ngày 23/9/2020 đứng tên ông Trần Hoàng A theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 02445, Quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 09/3/2021.
Ngày 10/3/2021, V đã giải ngân cho ông A và bà T2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7463712.21 với số tiền 3.000.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng. Quá trình thực
hiện hợp đồng, ông A và bà T2 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 19/12/2022 và đang xếp loại nợ nhóm 5 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N3.
Nay nguyên đơn V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 phải thanh toán ngay cho Ngân hàng V số tiền tạm tính đến ngày 26/8/2024 là: 3.745.940.494 đồng, bao gồm:
+ Nợ gốc: 2.832.741.414 đồng.
+ Nợ lãi trong hạn: 438.754.114 đồng.
+ Tổng lãi phạt (lãi quá hạn và phạt chậm trả): 474.444.966 đồng.
- Nguyên đơn VIB được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 27/8/2024 cho đến khi ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký (theo Hợp đồng tín dụng số 6581250.21 ngày 03/3/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7463712.21 ngày 10/3/2021).
- Trong trường hợp ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn V, đề nghị Tòa án tuyên nguyên đơn VIB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: “Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số: 3193, tờ bản đồ số: 32, địa chỉ: phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 673288, số vào sổ cấp GCN: CS12856 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/6/2019, cập nhật thay đổi ngày 23/9/2020 đứng tên ông Trần Hoàng A”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 02445, Quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 09/3/2021 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V.
Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1392429.21.638 ngày 09/3/2021).
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.
- Đối với chi phí tạm ứng xem xét, thẩm định tại chỗ V đã nộp, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát buộc ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho V.
2. Ông Trần Hòa A1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình tham gia tố tụng ông Trần Hòa A1 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Bị đơn đồng ý thanh toán cho V số tiền nợ gốc, bị đơn xin ngân hàng giảm nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí phạt vi phạm.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 và ông Trần Văn N2: Đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng bà N1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, ông N2 vắng mặt không lý do. Ông N2 và bà N1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu độc lập trong vụ án này nên Tòa án đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) đối với bị đơn ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
1.1. Buộc bị đơn ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 phải thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) tổng tiền nợ gốc, lãi phát sinh tính đến ngày 26/8/2024 là:
+ Nợ gốc: 2.832.741.414 đồng.
+ Nợ lãi trong hạn: 438.754.114 đồng.
+Tổng lãi phạt (lãi quá hạn và phạt chậm trả): 474.444.966 đồng.
Tổng cộng: 3.745.940.494 đồng.
Từ ngày 27/8/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ, tiền lãi tiếp tục được tính trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định Hợp đồng tín dụng số 6581250.21 ngày 03/3/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7463712.21 ngày 10/3/2021 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) với ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2.
1.2. Trường hợp ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 không thanh toán toàn bộ các khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
Thửa đất số: 3193, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 673288, số vào sổ cấp GCN: CS12856 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/6/2019, cập nhật thay đổi ngày 23/9/2020 đứng tên ông Trần Hoàng A và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp.
Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 02445, Quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 09/3/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 09/3/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là thành phố) B.
Trong thường hợp toàn bộ tài sản thế chấp được xử lý (phát mãi) nhưng không đủ để thanh toán các khoản nợ thì ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 phải có trách nhiệm trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 phải liên đới chịu số tiền 106.918.809 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 có yêu cầu rút toàn bộ kháng cáo nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trình bày ý kiến:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, các đương sự và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 có yêu cầu rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2. Đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp, bà N1 kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết nào mới cho yêu cầu của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 làm và nộp trong hạn là hợp lệ.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 có đơn kháng cáo và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu rút kháng cáo của ông Trần Hòa A1 là người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2.
Xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 về xử lý tài sản thế chấp thấy rằng:
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V) là: thửa đất số 3193, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 673288, số vào sổ cấp GCN: CS12856 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/6/2019, cập nhật thay đổi ngày 23/9/2020 đứng tên ông Trần Hoàng A và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp.
Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng: 02445, Quyển số: 03 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng ngày 09/3/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 09/3/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố B.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2024 xác định trên thửa đất số 3193, tờ bản đồ số 32 có các tài sản: 01 căn nhà cấp 3 tường gạch xây tô, mái lợp ngói, sơn nước, cửa đi, cửa sổ khung sắt kính, nền lát gạch; 01 sân lát gạch terazo, tường rào, cổng khung sắt....
Tại mục 3.2 và 3.3 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 09/3/2021 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 có thỏa thuận tài sản thế chấp theo hợp đồng này bao gồm nhưng không giới hạn các công trình xây dựng phụ trợ thuộc sở hữu của bên B (ông A, bà T2), vật phụ, hoa lợi, lợi tức, các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp, tài sản hay tiền đền bù, bồi thường của cơ quan có thẩm quyền hoặc bên thứ ba, bất kỳ và toàn bộ các quyền theo hợp đồng bảo hiểm ký giữa bên B và công ty B được bên A chấp nhận. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của ông Trần Hoàng A
và bà Nguyễn Thị T2 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp.
Đồng thời, Đơn xin xác nhận nguồn gốc nhà ở ngày 15/12/2020 của ông Trần Hoàng A thể hiện căn nhà trên đất được bà Trần Thị Kim P tặng cho được UBND phường C, thị xã B xác nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 cũng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các tài sản trên đất đã thế chấp thuộc quyền sở hữu của mình.
Do đó, bà Trần Thị N1 kháng cáo cho rằng căn nhà và tài sản trên đất do ông Trần Hoàng A đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 673288, số vào sổ cấp GCN: CS12856 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/6/2019, cập nhật thay đổi ngày 23/9/2020 thuộc quyền sở hữu của bà là không có căn cứ.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bị đơn ông Trần Hoàng A, bà Nguyễn Thị T2 phải chịu án phí dân sự theo quy định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 điều 289, Điều 293; khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của các bị đơn ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1;
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Hoàng A và bà Nguyễn Thị T2 mỗi người phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005621 và 0005622 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Bà Trần Thị N1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tấn |
Bản án số 231/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 231/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
