|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN Bản án số: 231/2025/DS-PT Ngày 09-4-2025 V/v Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia di sản thừa kế |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Quốc
Các Thẩm phán
Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Khổng Văn Đa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 01 và 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025. về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Huệ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 85/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn.
- Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1963;
- Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1966;
- Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1979;
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1972. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Huỳnh Thị N2, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Huỳnh Thị G, sinh năm 1976. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn: Ông Phạm Văn Y, sinh năm 1967. Địa chỉ cư trú: Số E, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (văn bản ủy quyền ngày 12/3/2025).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc K, sinh năm 1981. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ca L1, sinh năm 1982.
- Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1959.
- Ông Nguyễn Sa L2, sinh năm 1992.
- Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh L (trước đây Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L). Địa chỉ trụ sở: Số A, Quốc lộ A, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.
- Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Địa chỉ trụ sở: Ấp B, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn H1 – Giám độc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ (văn bản uỷ quyền ngày 12/3/2025).
- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Quốc K là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2022, quá trình tố tụng nguyên đơn các ông (bà) Huỳnh Văn L, Huỳnh Thị N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Thị N2, Huỳnh Thị G do ông Phan Phụng Đức T1 đại diện theo ủy quyền trình bày và yêu cầu:
Cụ Huỳnh Văn L3 (sinh năm 1928, chết năm 2020) và cụ Trần Thị L4 (sinh năm 1938, chết năm 2018) sống chung từ năm 1958, có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2015 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã M, huyện Đ. Trong quá trình chung sống cụ L3 cụ Lê tạo L5 được khối tài sản chung như sau:
- + Diện tích đất 355m² thửa số 1100, loại đất ONT, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BM 679045, vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH 02381 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/01/2013 đứng tên cụ Huỳnh Văn L3.
- + Diện tích đất 5.693m² thuộc thửa số 1101, loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa tạc ấp E, xã M, huyện Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 679046, vào sổ cấp
GCNQSDĐ số CH 02382 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/01/2013 đứng tên cụ Huỳnh Văn L3.
Cụ L3, cụ Lê C sống với nhau có 10 người con chung, gồm: Ông Huỳnh Văn Đ, ông Huỳnh Văn L, ông Huỳnh Văn N3 (chết năm 1978, không có vợ, con), bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị N4 (chết năm 2000 - người thừa kế thế vị là ông Nguyễn Sa L2), bà Huỳnh Thị N1, bà Huỳnh Thị N2, bà Huỳnh Thị G, ông Huỳnh Văn H, ông Huỳnh Quốc K. Ngoài ra, cụ L3 cụ L4 không có con riêng hay con nuôi nào khác. Cha, mẹ cụ L3 cụ L4 đã chết.
Năm 2017, ông K chở cụ L3 ra UBND xã M làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (viết tắt là HĐTCQSDĐ) mà không có bàn bạc với cụ L4 và các anh em trong gia đình đối với thửa đất số 1100 và thửa đất số 1101 theo HĐTCQSDĐ số chứng thực 05, quyển số 01/2017- SCT/HĐ/GD do UBND xã M chứng thực ngày 11/01/2017, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ chỉnh lý biến động sang tên ông K ngày 17/01/2017.
Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- - Tuyên vô hiệu một phần HĐTCQSDĐ số chứng thực 05, quyển số 01/2017-SCT/HĐ/GD do UBND xã M chứng thực ngày 11/01/2017 giữa cụ Huỳnh Văn L3 và ông Huỳnh Quốc K đối với diện tích đất 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 176,3m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2.847,7m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ (khu A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo mãnh trích đo ngày 09/5/2024).
- - Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 176,3m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2.847,7m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ (khu A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo mảnh trích đo ngày 09/5/2024) thành 9 phần bằng nhau tương đương 336m²/phần cho những người thừa kế của cụ L3 cụ Lê bao G1: Ông Huỳnh Văn Đ, ông Huỳnh Văn L, bà Huỳnh Thị N, ông Nguyễn Sa L2 là người thừa kế thế vị của bà Huỳnh Thị N4, bà Huỳnh Thị N1, bà Huỳnh Thị N2, ông Huỳnh Văn H, bà Huỳnh Thị G, ông Huỳnh Quốc K. Phần thừa kế của các ông (bà) L, N, N1, N2, H không nhận mà đồng ý giao cho bà G.
Các nguyên đơn yêu cầu chia diện tích đất, không chia giá trị và đồng ý nhận phần đất loại BHK, phần đất ONT người thừa kế khác nhận thì không phải hoàn lại giá trị chênh lệch.
Các nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu tuyên vô hiệu một phần HĐTCQSDĐ số chứng thực 05, quyển số 01/2017-SCT/HĐ/GD do UBND xã M chứng thực ngày 11/01/2017 giữa cụ Huỳnh Văn L3 và ông Huỳnh Quốc K đối với diện tích đất 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 178,7m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2.845,3m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ (khu A theo mảnh trích đo ngày 09/5-2024, phần đất có căn nhà của ông K) và chia thừa kế đối với diện tích đất nêu trên.
Tại bản tự khai ngày 14/11/2022, quá trình tố tụng bị đơn ông Huỳnh Quốc K trình bày:
Ông thống nhất lời trình bày của các nguyên đơn về quan hệ huyết thống, thời gian ba mẹ chết, chết không để lại di chúc, ngoài ra không còn người thừa kế nào khác. Qua yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông không đồng ý toàn bộ vì thửa đất 1100 và 1101 là tài sản riêng của cụ L3, cụ L3 được ba ruột cụ L3 tặng cho (không lập giấy tờ). Khi ba cụ L3 tặng cho cụ L3 thì đất chưa được cấp GCNQSDĐ. Cụ L3 đã tặng cho ông theo HĐTCQSDĐ ngày 11/01/2017 và ông đã được đứng tên trên GCNQSDĐ. Đất hiện nay do ông và vợ là bà L1 quản lý, sử dụng. Nếu diện tích đất được chia thừa kế theo pháp luật thì ông yêu cầu được nhận thêm 01 phần công sức giữ gìn di sản.
Tại bản tự khai ngày 14/12/2022, quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn Đ1 trình bày:
Ông thống nhất lời trình bày của các nguyên đơn về quan hệ huyết thống, thời gian ba mẹ chết, chết không để lại di chúc, ngoài ra không còn người thừa kế nào khác. Ông thống nhất lời trình bày của ông K. Nguồn gốc thửa đất 1100, 1101 do ông bà nội của ông tặng cho ba mẹ ông là cụ L3 cụ L4. Cụ L3 đã tặng cho ông K thì ông đồng ý để lại cho ông K. Trong vụ án này ông không có yêu cầu độc lập. Nếu chia di sản thì phần của ông, ông đồng ý để cho ông K.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sa L2 trình bày:
Ông là người con duy nhất của bà N4. Phần đất cụ L3 tặng cho ông K nên ông K có quyền hưởng. Trong vụ án này ông không có yêu cầu độc lập.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/12/2023, quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ca L1 trình bày:
Bà là vợ ông K. Bà và ông K đang quản lý hai thửa đất đang tranh chấp 1100 và 1101. Bà thống nhất toàn bộ trình bày của ông K. Trong vụ án này bà không có yêu cầu độc lập.
Các đương sự thống nhất kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định và định giá tài sản tranh chấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Huệ đã tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các ông (bà) Huỳnh Văn L, Huỳnh Thị N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Thị N2, Huỳnh Thị G đối với ông Huỳnh Quốc K về việc “tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia di sản thừa kế” liên quan diện tích đất 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 178,7m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2845,3m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (khu 11 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các ông (bà) Huỳnh Văn L, Huỳnh Thị N, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Thị N2, Huỳnh Thị G đối với ông Huỳnh Quốc K về việc “tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và chia di sản thừa kế” liên quan diện tích đất 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 176,3m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2.847,7m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (khu A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2).
- - Buộc ông Huỳnh Quốc K, bà Nguyễn Thị Ca L1 phải giao lại quyền sử dụng đất diện tích 3.024m², thuộc một phần thửa 1100, diện tích 176,3m², loại đất ONT và một phần thửa 1101, diện tích 2.847,7m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (khu A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2) để phân chia cho các đồng thừa kế như sau:
- + Bà Huỳnh Thị G được chia di sản thừa kế gồm: phần đất có diện tích 1.814,4m² thuộc một phần thửa 1101, loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (khu A, 2, 3, 4, 5, 6 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2).
- + Ông Huỳnh Quốc K được chia di sản thừa kế gồm: phần đất có diện tích 176,3m² thuộc một phần thửa 1100, loại đất ONT, một phần thửa 1101, diện tích 1.033,3m², loại đất BHK, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (khu G, 8, 9, 10 theo Mảnh trích đo địa chính ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2). Tổng diện tích 1.209,6m².
(Các thửa đất nói trên có tứ cận, độ dài từng cạnh theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 52-2023 của Công ty TNHH một thành viên Đ2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 14/4/2023 và Mảnh trích đo ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH một thành viên Đ2).
Người được thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Đồng thời, ông K, bà L1 có nghĩa vụ di dời, thu hoạch cây cối, hoa màu trên đất để giao lại diện tích đất cho những người được hưởng thừa kế trong thơi hạn 60 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Quá thời hạn trên mà ông K, bà L1 không di dời, thu hoạch thì bị cưỡng chế đốn bỏ và không được bồi thường.
- Về chi phí xác minh, thu thập chứng cứ: 2.500.000 đồng, bà G tự nguyện chịu (đã nộp tạm ứng và chi phí xong).
- Về chi phí đo vẽ và chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng cộng 50.780.000 đồng. Bà Huỳnh Thị G chịu 40.624.000 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn đồng), ông Huỳnh Quốc K chịu 10.156.000 đồng (mười triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng) trả lại cho bà G.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Huỳnh Thị G có nghĩa vụ chịu án phí chia di sản thừa kế 35.652.960 đồng. Khấu trừ 1.560.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp (theo các Biên lai thu số 0005431, 0005432 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà G có nghĩa vụ tiếp tục nộp 34.092.960 đồng (ba mươi bốn triệu không trăm chín mươi hai nghìn chín trăm sáu mươi đồng).
- - Ông Huỳnh Quốc K có nghĩa vụ chịu án phí tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu 300.000 đồng và án phí chia di sản thừa kế 25.619.745 đồng. Tổng cộng 25.919.745 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm mười chín nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng).
- - Các ông (bà) Huỳnh Văn L, Huỳnh Thị N, Huỳnh Thị N1, Huỳnh Văn H, Huỳnh Thị N2 không phải chịu tiền án phí. H2 lại cho các ông (bà) L, N, N1, H, Nhắc tiền tạm ứng án phí đã nộp; cụ thể:
- Ông L 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) (theo các Biên lai thu số 0005421, 0005422 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Bà N 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) (theo các Biên lai thu số 0005425, 0005426 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Ông H 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) (theo các Biên lai thu số 0005423, 0005424 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Bà N1 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) (theo các Biên lai thu số 0005427, 0005428 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Bà N2 1.560.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) (theo các Biên lai thu số 0005429, 0005430 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0004537 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ, ông K đã nộp xong.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tấn Quốc |
Bản án số 231/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia di sản thừa kế
- Số bản án: 231/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, chia di sản thừa kế
