Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/DS-PT

Ngày: 02-12-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn.

Bà Võ Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Chúc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên toà.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 240/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 212/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1962.

    Địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989.

    Địa chỉ: Số B đường C, khu T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ, có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành K, sinh năm: 1945.

    Địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1990, có mặt.
    2. Bà Phạm Thanh Thanh T, sinh năm 1989, vắng mặt.
    3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949, vắng mặt.
    4. Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

    5. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947.
    6. Bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1973.
    7. Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1975.
    8. Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1978.
    9. Ông Nguyễn Minh K1, sinh năm 1981.
    10. Bà Nguyễn Thị Bé N1, sinh năm 1988.
    11. Bà Nguyễn Thị Huỳnh N2, sinh năm 1985.
    12. Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, đều vắng mặt.

    13. Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
    14. Địa chỉ: Xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.

  4. Người kháng cáo: Ông Phạm Văn V là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình thu thập chứng cứ, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Phạm Văn V, đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N, bà Phạm Thanh Thanh T, bà Nguyễn Thị M trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của mẹ vợ tên Nguyễn Thị Ú cho ông vào năm 1990 diện tích 6.158m² bao gồm đất vườn và đất thổ cư. Ông sử dụng đến năm 1995 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 318 diện tích 5.858m², thửa 319 diện tích 300m². Phần đất ông sử dụng giáp ranh với phần đất của ông Nguyễn Thành K, phần đất trước đây giữa hai bên đã có mốc ranh cụ thể. Năm 2005 ông với ông K bị thay đổi, ông Nguyễn Thành K đã lấn chiếm của ông phần đất theo diện tích đo đạc 360,7m².

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành K có nghĩa vụ trả lại phần đất đã lấn chiếm cho ông có diện tích 360,7m².

Bị đơn ông Nguyễn Thành K, đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Hoàng O, bà Nguyễn Thị Kim P, bà Nguyễn Thị Kim T1, ông Nguyễn Minh K1, bà Nguyễn Thị Bé N1, bà Nguyễn Thị Huỳnh N2 trình bày: Phần đất ông sử dụng là do ông nhận chuyển nhượng của ông Hai C (cha vợ của ông Phạm Văn V) vào năm 1988 diện tích 01 công tầm 03 mét. Ông sử dụng đến năm 2001 thì được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 320 diện tích 1.175m². Phần đất ông sử dụng giáp ranh với phần đất của ông Phạm Văn V, phần ranh trước đây ông Phạm Văn V có đào đường nước chiều ngang 02 lưỡi len. Sau đó, ông V bán đường đi cho ông Dương Văn M1 chiều ngang 04 mét, khi đó ông với ông V, ông M1 có xác định mốc ranh hiện nay vẫn còn. Năm 2020, ông được nhà nước thu hồi, bồi thường, hỗ trợ phần đất của ông diện tích 300m² để xây cất Nhà văn hoá ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Khi nhà nước thu hồi, bồi thường thì không ai phát sinh tranh chấp gì. Mặt khác, ông không có lấn chiếm đất của ông V, nên ông V yêu cầu ông trả lại phần đất có diện tích 360,7m² thì ông không đồng ý.

Tại bản ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Vũ Bích L1 trình bày: Năm 2020, Ủy ban nhân dân thị xã L ra quyết định thu hồi, bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất diện tích 300m² để xây cất Nhà văn hoá ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Khi nhà nước thu hồi, bồi thường thì không ai phát sinh tranh chấp gì. Hiện nay, Nhà văn hóa ấp L2, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang đã được xây dựng xong và đưa vào hoạt động thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang không có ý kiến gì đối với phần đất đang tranh chấp, Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L yêu cầu Tòa án giải quyết đúng quy định của pháp luật. Do bận công việc Cơ quan, thường xuyên đi dự họp nên ông Nguyễn Vũ Bích L1 yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản án sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn V đối với bị đơn ông Nguyễn Thành K về việc yêu cầu trả lại phần đất có diện tích 360,7m².

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn ông Phạm Văn V có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Đối chiếu với lược đồ đo đạc thì phần đất của nguyên đơn thiếu hơn 1.500m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trong khi đó bị đơn dư 151.3m² tại thửa 320. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, 01 phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, buộc bị đơn trả giá trị quyền sử dụng đất 151.3m² theo chứng thư thẩm định giá cho nguyên đơn.

Bị đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, đất của ông hiện tại không giáp ranh với đất của nguyên đơn mà giáp với đất ông M1. Khi nhà nước thu hồi đất thì ông M1 ký giáp ranh cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm từ giai đoạn thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Đối với kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm phần đất diện tích 360.7m², yêu cầu bị đơn trả lại phần đất này. Tuy nhiên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn ông Nguyễn Thành K được cấp thì phần diện tích tại thửa 320 có diện tích 1.175m² giáp ranh với nguyên đơn ông V tại thửa 318 diện tích 5.858m². Tại Mảnh trích đo địa chính số 13/SHC ngày 07/3/2024 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ thì phần đất tại thửa 320 của ông K có diện tích 975m², ít hơn diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với phần đất của ông Phạm Văn V sau khi đo đạc tại thửa 318, thửa 319 có diện tích 4.290,7m², khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất tại thửa 318 ông V chưa chỉ hết phần đất nên không xác định được phần đất bị thiếu bao nhiêu. Tại phiên tòa sơ thẩm ông V trình bày ông không biết ranh cụ thể nên không chỉ hết phần đất, ông không yêu cầu đo đạc, thẩm định lại. Do vậy, không đủ cơ sở khẳng định phần đất ông V có thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là do ông K chiếm. Trong khi nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự trong vụ án.

Mặt khác, Phần đất tranh chấp với ông K có diện tích 360,7m² (trong đó phần đất tại vị trí III diện tích 350,6m² và phần đất vị trí IV diện tích 10,1m²) phần đất hiện nay có một phần đã được Ủy ban nhân dân thị xã L, tỉnh Hậu Giang ra quyết định thu hồi để xây cất Nhà văn hóa ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Theo hồ sơ thu hồi đất, bồi thường để xây dựng Nhà Văn hóa ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang thì phần đất bị thu hồi là phần đất tại thửa 320 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thành K. Gia đình ông V không có tranh chấp, khiếu nại gì về việc thu hồi, bồi thường này.

Bên cạnh đó, theo lời khai người làm chứng ông Dương Văn M1 thì phần đất ông M1 nhận chuyển nhượng của ông V chiều ngang 04 mét để làm đường đi giáp ranh với phần đất của ông K, phần đất hiện nay ông M1 sử dụng giáp ranh với Nhà văn hóa ấp L2, xã L. Ông V cũng thừa nhận phần đất ông bán cho ông M1 chiều ngang 04 mét để làm đường đi giáp ranh với phần đất của ông K hiện tại vẫn còn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng phần đất ông K lấn của ông là phần đất hiện nay nhà văn hóa xây dựng. Tuy nhiên, căn cứ vào hồ sơ thu hồi đất của Ủy ban nhân thị xã L thì thửa đất bị thu hồi là một phần thửa 320 thuộc quyền sử dụng của ông K, nên việc ông V cho rằng phần đất đó thuộc quyền sử dụng của ông V là không có căn cứ. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng ông K thừa 151.3m² tại thửa 320 nên buộc ông K trả giá trị phần diện tích đất nêu trên là không có căn cứ.

Tại phiên tòa hôm nay, ông V không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Từ những căn cứ trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là không căn cứ chấp nhận. Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông V là người cao tuổi nên được miễn theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 99, Điều 100, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn V đối với bị đơn ông Nguyễn Thành K về việc yêu cầu trả lại phần đất có diện tích 360,7m².
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Văn V là người cao tuổi nên được miễn nộp.
  3. Chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm Văn V phải chịu số tiền 7.760.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), đã nộp xong.
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông V được miễn theo quy định.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 02 tháng 12 năm 2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND thị xã L, Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS thị xã L, Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Bích Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/DS-PT ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 231/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông V và ông K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger