TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/DS-PT Ngày 25 tháng 11 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2024/TLPT- DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS- ST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 230/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 373/2024/QĐ-PT ngày 01/11/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
- Ông Đặng Mạnh H, sinh năm 1967. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
- Chị Đặng Thùy L, sinh năm 2000. Địa chỉ: tổ E, phường B, quận L, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Mạnh H: Chị Đặng Thùy L, sinh năm 2000; địa chỉ: tổ E, phường B, quận L, thành phố Hà Nội theo giấy ủy quyền ngày 28/4/2022 (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H, chị L: Ông Phan Tùng L1- Luật sư thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: số F phố N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
* Bị đơn:
- Ông Trần L2, sinh năm 1969 (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1973 (Có mặt)
Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L2, bà P: Ông Đào H1, Luật sư thuộc Công ty L4, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: số A phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (Có mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn chị Đặng Thùy L và ông Đặng Mạnh H- Do chị L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 10/8/2015 mẹ chị có cho vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P vay số tiền 600.000.000đ; lập thành hai giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền), trong đó một Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ghi nội dung cho vay 200.000.000đ, một Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ghi nội dung cho vay 400.000.000₫ đều thỏa thuận thời hạn vay 36 tháng, đến hạn trả nợ là ngày 10/8/2018, không thỏa thuận lãi suất.
Ngoài ra cùng ngày 10/8/2015 ông Trần L2 và bà Nguyễn Thị P có ký thêm các giấy tờ gồm: 01 Thỏa thuận vay vốn số 01/TT/VVDS nội dung ông L2 bà P có vay bà H3 400.000.000đ; 01 Hợp đồng vay vốn số 01/HĐ/VVDS nội dung ông L2 bà P vay bà H3 400.000.000đ, đều thỏa thuận thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 1,5%/tháng, trả lãi vào ngày 30 hàng tháng. Khi vay tiền vợ chồng ông L2 có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (hiện nay chị đang là người quản lý). Tháng 9/2017 mẹ chị chết, gia đình chị có đến đòi tiền nhưng ông L2, bà P đã xuất trình giấy biên nhận ngày 28/8/2015 thể hiện mẹ chị đã nhận đầy đủ số tiền mà vợ chồng ông L2, bà P đã vay, hai ông bà không còn nợ nần gì nữa.
Nghi ngờ giấy biên nhận trên không phải do mẹ chị viết nên ngày 11/12/2017, ông H đã mượn bản gốc Giấy biên nhận ghi ngày 28/8/2015 này của ông L2. Ngày 14/12/2017 chị L đã làm đơn đề nghị V Bộ C1 giám định; kết quả giám định ngày 16/01/2018 của V xác định chữ viết và chữ ký trong giấy biên nhận này không phải là của mẹ chị.
Sau khi có kết luận giám định, chị đã đến gặp ông L2, bà P để lãm rõ giấy biên nhận mà ông L2, bà P cung cấp là giả và đề nghị ông bà trả cho chị số tiền 600.000.000đ. Tuy nhiên ông L2, bà P vẫn cam đoan giấy biên nhận là đúng và không chịu trả tiền.
Bố mẹ chị sinh được 02 người con là Đặng Mạnh H2, sinh năm 1991 (chết tai nạn giao thông ở C, Lạng Sơn ngày 23/12/2009 AL khi chưa có vợ con) và chị (Đặng Thùy L); ngoài ra bố mẹ chị không có người con nuôi hoặc nuôi dưỡng nào khác. Ngày 15/9/2017 mẹ chị chết và không để lại di chúc. Ông bà ngoại của chị (tức bố mẹ đẻ của bà H3) đã chết từ lâu. Vì vậy, hàng thừa kế thứ nhất của bà H3 chỉ còn chị và ông Đặng Mạnh H.
Nay chị yêu cầu vợ chồng ông L2, bà P phải thanh toán trả cho chị số tiền gốc đã vay của mẹ chị còn nợ là 600.000.000đ và số tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,5%/ tháng tính từ ngày 01/01/2018 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do chị đang là người quản lý thì chị đồng ý trả lại cho ông L2. Nhưng chị sẽ trả tại cơ quan thi hành án dân sự.
Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là ông Đặng Mạnh H trình bày: Ông xác nhận toàn bộ nội dung khởi kiện và lời trình bày của con gái ông là chị Đặng Thùy L trình bày là đúng và nhất trí với ý kiến của chị L. Yêu cầu ông Trần L2 và bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho bố con ông số tiền gốc còn nợ của hai khoản vay vào ngày 10/8/2015 là 600.000.000đ và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 1,5%/ tháng (tức 18%/năm) tính từ ngày 01/01/2018 cho đến khi xét xử sơ thẩm. Ông đề nghị Tòa án buộc trả toàn bộ số tiền trên và giao toàn bộ cho chị L được hưởng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Đặng Thùy L và ông Đặng Mạnh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện gồm: yêu cầu vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả số tiền nợ gốc của hai khoản vay ngày 10/8/2015 là 600.000.000đ và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.318.500.000đ, cụ thể: tiền lãi từ ngày 10/8/2015 đến ngày 31/12/2016 tính theo mức lãi suất 09%/ năm là 72.000.000đ; tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 10/8/2018 tính theo mức lãi suất 18%/ năm là 180.000.000đ; tiền lãi từ ngày 11/8/2018 đến ngày 09/8/2024 tính theo mức lãi suất 30%/ năm là 1.066.500.000đ. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 1.918.500.000đ (Một tỷ chín trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng). Ông H đề nghị giao toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi cho chị L được hưởng. Đối với số tiền lãi ông L2 đã trả thì đồng ý đối trừ vào số tiền lãi phát sinh. Đồng ý trả cho ông Trần Lưu bản G giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trả tại cơ quan thi hành án dân sự.
Tại đơn yêu cầu phản tố, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn là ông
Trần L2 trình bày:
Vợ ông có quan hệ họ hàng với ông Đặng Mạnh H nên vợ chồng ông và vợ chồng ông H, bà H3 có quen biết, chơi với nhau. Do vợ chồng ông cần tiền để trả nợ bà Nguyễn Thị C (em gái vợ ông). Vì vậy vào ngày 10/8/2015 vợ chồng ông có đến nhà bà Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1970 ở phường B, quận L, thành phố Hà Nội để vay tiền. Tổng số tiền vợ chồng ông vay của bà H3 là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng). Khi vay tiền thì giữa vợ chồng ông và bà H3 có lập 02 giấy vay tiền đều ghi ngày 10/8/2015, một giấy vay ghi số tiền vay 200.000.000đ; một giấy vay ghi số tiền vay 400.000.000đ. Ông là người trực tiếp viết nội dung trong cả hai giấy vay tiền rồi ông và vợ (Nguyễn Thị P) ký nhận bên người vay theo như 02 giấy vay tiền mà ông H, chị L cung cấp cho Tòa án; vợ chồng ông trực tiếp nhận số tiền 600.000.000đ từ bà H3 giao cho. Hai bên có thỏa thuận thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 10/8/2015 đến ngày 10/8/2018; trong cả hai giấy vay tiền đều không ghi lãi suất nhưng các bên có thỏa thuận miệng là lãi suất 1,5%/ tháng; thời hạn trả tiền lãi vào ngày 30 hàng tháng.
Đối với mã vay 400.000.000đ thì bà H3 có yêu cầu vợ chồng ông lập thành nhiều loại giấy tờ vay gồm: Hợp đồng vay vốn số 01/HĐ/VVDS ngày 10/8/2015; Biên bản bàn giao tiền vay (thuộc phụ lục của HĐVV số 01/HĐ/VVDS) ngày 10/8/2015; Thỏa thuận vay vốn số 01/TT/VVDS ngày 10/8/2015. Nhưng bản chất thực tế vợ chồng ông chỉ vay số tiền 400.000.000đ.
Khi vay tiền, để làm tin thì vợ chồng ông có giao cho bà H3 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do chị Đặng Thùy L đang quản lý.
Sau khi vay do em gái vợ ông không mua được đất; chưa cần sử dụng đến tiền nên vợ chồng ông vẫn giữ số tiền vay 600.000.000₫ của bà H3 mà chưa trả nợ cho chị C. Đến ngày 28/8/2015 ông trực tiếp đến nhà bà H3 tại phường B, quận L trả số tiền 600.000.000₫ mà ông đã vay vào ngày 10/8/2015. Ngoài ra ông còn trả số tiền lãi của 18 ngày vay là 5.400.000đ. Tổng cộng ngày 28/8/2015 ông trả cho bà H3 số tiền là 605.400.000₫ (Sáu trăm linh năm triệu bốn trăm nghìn đồng).
Khi trả tiền thì ông có yêu cầu bà H3 đưa trả lại bản gốc 02 giấy vay tiền; thỏa thuận vay vốn; hợp đồng vay vốn; biên bản bàn giao tiền vay đã ký vào ngày 10/8/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Nhưng bà H3 nói những giấy tờ trên đang để ở két sắt gửi chỗ khác nên không trả được; bà H3 có hẹn lúc khác tiện sẽ lấy về trả cho ông sau. Ông yêu cầu bà H3 viết giấy biên nhận về việc
vợ chồng ông đã thanh toán trả hết tiền vay cho bà H3 và không còn nợ nần gì nữa. Bà H3 đọc cho con gái là Đặng Thùy L viết “Giấy biên nhận” với nội dung là “ số tiền vợ chồng ông vay của bà H3 từ ngày 28/8/2015 trở về trước đã thanh toán đầy đủ, không còn nợ nần gì nữa” như giấy biên nhận đã cung cấp cho Tòa án. Sau khi chị L viết xong giấy biên nhận thì bà H3 có ký, ghi họ tên, ngày tháng ở phía dưới. Lý do ông không yêu cầu bà H3 viết rõ việc nhận số tiền 605.400.000đ là do ông không nghĩ ra và cũng do tin tưởng lẫn nhau.
Ngoài việc vay tiền ngày 10/8/2015 thì trong khoảng thời gian năm 2011, năm 2012 một mình ông có khoảng 02 đến 03 lần vay tiền của bà H3 nhưng chỉ vay số tiền nhỏ khoảng từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ và vay trong thời gian ngắn (ít ngày, vay nóng). Những lần vay tiền đó giữa ông và bà H3 chỉ giao tiền vay cho nhau ở khu sau chợ L mà không lập giấy biên nhận vay tiền; những lần vay này ông cũng đã thanh toán trả đủ số tiền vay cho bà H3.
Ông khẳng định toàn bộ nội dung trong “Giấy biên nhận” ngày 28/8/2015 là do chị L viết; bà H3 ký nhận, ghi họ tên, ngày tháng bên dưới rồi đưa cho ông giữ; ông không viết thêm hoặc sửa chữa gì trong giấy biên nhận.
Sau khi trả tiền cho bà H3 ngày 28/8/2015 ông có nhiều lần gọi điện thúc giục bà H3 trả giấy biên nhận vay tiền; các giấy tờ đã ký ngày 10/8/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng bà H3 đều khất lần chưa trả. Khi bà H3 bị tai nạn, ốm thì ông không đòi bà H3 nữa và ông cũng không hỏi hoặc yêu cầu ông H, chị L trả giấy tờ trên. Sau khi bà H3 chết vào cuối năm 2017 ông có hỏi ông H về giấy chứng nhận quyền sử dụng đã đưa cho bà H3 thì ai đang giữ để trả lại. Ông H có hỏi về việc thanh toán trả hết nợ chưa, đưa chứng cứ cho ông H xem; nếu trả hết nợ thì mới trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng. Vào ngày 11/12/2017 tại xưởng sửa chữa ô tô H4 ông có đưa cho ông H giấy biên nhận bản gốc mà chị L viết vào ngày 28/8/2015 để ông H đi giám định.
Ngoài việc trả cho bà H3 số tiền lãi 5.400.000đ vào ngày 28/8/2015 thì ông không trả cho bà H3 số tiền lãi nào khác của khoản vay 600.000.000đ ngày 10/8/2015. Đối với việc chị L nói ông có trả tiền lãi khoảng 03 lần, mỗi lần trả 7.800.000đ cho ông H để ông H gửi cho chị L thì ông trình bày như sau: Vào khoảng năm 2011 ông có đứng ra bảo lãnh cho ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ dân phố số C, thị trấn K, L, Bắc Giang vay bà H3 số tiền 100.000.000đ. Ông bảo lãnh trả toàn bộ tiền lãi hộ ông K, mỗi tháng là 3.000.000đ. Đến tháng 9/2015 ông có thống nhất với bà H3 là ông sẽ trả thay cho ông K tổng số tiền là 124.000.000đ, thời hạn trả là từ tháng 9/2015 đến hết năm 2016 (tức 16 tháng, mỗi tháng trả 7.800.000đ). Kể từ tháng 9/2015 đến hết năm 2016 kể cả khi bà H3 ốm nằm liệt gường thì hàng tháng ông vẫn trả số tiền đã thỏa thuận trên cho bà H3. Hình thức trả thì đa số là trả trực tiếp cho bà H3, có một số lần chuyển khoản, có lần thì trả thông
qua người khác ông không nhớ trả qua ai; có khoảng 02 đến 03 lần ông đưa trực tiếp cho ông H (mỗi lần đưa cho ông H số tiền 7.800.000đ). Vì vậy, việc ông trả tiền không liên quan gì đến khoản tiền vay 600.000.000đ vào ngày 10/8/2015. Việc trả tiền trên cho bà H3 thì ông không nói gì cho ông K biết và cũng chưa lần nào yêu cầu ông K trả số tiền mà ông đã trả thay cho ông K nêu trên.
Ông khẳng định đã trả đầy đủ số tiền vay 600.000.000đ vào ngày 10/8/2015 cho bà H3. Vì vậy ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, chị L.
Ông yêu cầu chị Đặng Thùy L phải trả lại cho ông bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tại bản tự khai ngày 05/4/2022, bị đơn là bà Nguyễn Thị P trình bày: Do có vay em gái một số tiền, khi em gái cần (tức mua đất). Bà bàn với chồng (Trần L2) vay 600.000.000đ là có thật (đúng sự thật). Do em gái bà không mua được đất, bà không sử dụng đến số tiền vay. Vợ chồng đã bàn nhau anh L2 là người trực tiếp xuống Hà Nội trả chị H3. Đến nay giấy chứng nhận sử dụng đất gia đình bà thì chị H3 vân giữ.
Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết trong “Giấy biên nhận” ghi ngày 28/8/2015 có kết quả như sau:
- Kết luận giám định số 1591/KL-KTHS ngày 13/9/2022 của Phòng K1, Công an tỉnh B kết luận: Chữ số “2” trong số “2015” và các chữ số “8” tại dòng chữ “ngày 28/8/2015” ở dòng 01 (tính từ dưới lên trên); các chữ số “2” trong dòng chữ “ngày 28 tháng 8 năm 2015” ở dòng 07 trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) bị tô đồ lại;
- Kết luận giám định số 339/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của V, Bộ C1 kết luận: Chữ số “2” trong số “28” tại mục ngày ở dòng thứ 7 tính từ dưới lên trên mẫu cần giám định ký hiệu A là chữ số được viết thêm; Nội dung nguyên thủy tại vị trí chữ số “2” trong số “28” tại mục ngày ở dòng thứ 1 tính từ dưới lên trên mẫu cần giám định ký hiệu A đã bị tẩy xóa. Chữ số “2” hiện tại được viết sau khi tẩy xóa. Không xác định được nội dung nguyên thủy;
- Kết luận giám định số 61/KL-GĐKTHS (P11) ngày 30/3/2023 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự, Bộ Q kết luận đối với cụm chữ số “ngày 28 tháng 8 năm 2015” tại dòng thứ 7 dưới lên: Không đủ cơ sở kết luận chữ số “2” trước chữ số “8” trong chữ số “28” có phải chữ số được viết chèn thêm vào hay không.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 50/2024/DS- ST ngày 13 tháng 8 năm
2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã quyết định:
Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 184; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 298; Điều 471; Điều 474; Điều 476; Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 288; Điều 357; Điều 468; Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thùy L và ông Đặng Mạnh H.
Buộc vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho chị Đặng Thùy L số tiền nợ gốc là 600.000.000 đồng; số tiền nợ lãi là 770.600.000đ. Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh là 1.370.600.000đ (Một tỷ ba trăm bẩy mươi triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày 14/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 18%/ năm.
- Không chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thùy L, ông Đặng Mạnh H về số tiền lãi vượt quá là 422.700.000đ (Bốn trăm hai mươi hai triệu bẩy trăm nghìn đồng)
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Lưu .
Buộc chị Đặng Thùy L phải trả lại cho ông Trần L2: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 27/8/2024, nguyên đơn là chị Đặng Thùy L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với phần tiền lãi quá hạn.
Ngày 28/8/2024, bị đơn là ông Trần L2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với tiền gốc và tiền lãi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn chị Đặng Thùy L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; rút yêu cầu kháng cáo đối với tiền lãi quá hạn. Bị đơn ông Trần Lưu G1
nguyên yêu cầu phản tố và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 289, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của chị Đặng Thùy L; không chấp nhận kháng cáo của ông Trần L2; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Chị Đặng Thùy L và ông Trần Lưu P1 chịu án phí DSPT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét kháng cáo của chị Đặng Thùy L:
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Đặng Thùy L rút yêu cầu kháng cáo đối với tiền lãi quá hạn. Việc rút yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thùy L là tự nguyện nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thùy L về tiền lãi quá hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Trần L2, HĐXX thấy:
[2.1] Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Mạnh H, chị Đặng Thùy L buộc vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả số tiền nợ gốc là 600.000.000đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.318.500.000₫.
Về số tiền vay gốc: Ông Trần Lưu thừa N vợ chồng ông có vay của bà Nguyễn Thanh H3 số tiền gốc là 600.000.000đ theo hai “Giấy vay tiền (Kiêm giấy nhận tiền)” ngày 10/8/2015; ông L2 là người trực tiếp viết nội dung trong giấy vay tiền rồi hai vợ chồng ông cùng ký nhận bên mục người vay và nhận số tiền vay 600.000.000đ từ bà H3 đưa cho; thời hạn vay là 03 năm; lãi suất thỏa thuận miệng là 1,5%/tháng và được ghi trong Thỏa thuận vay vốn số 01/TT/VVDS, Hợp đồng vay vốn số 01/HĐ/VVDS cùng lập ngày 10/8/2015.
Về việc thanh toán trả tiền: Trong quá trình giải quyết vụ án ông L2 cho rằng đã thanh toán trả cho bà H3 toàn bộ số tiền gốc là 600.000.000đ đã vay vào ngày 10/8/2015 theo giấy biên nhận do chị Đặng Thùy L lập ghi ngày 28/8/2015 với nội dung “Số tiền vợ chồng chú L2 vay của tôi từ ngày 28 tháng 8 năm 2015 trở về
trước chú L2 đã thanh toán đầy đủ cho tôi, không còn nợ nần gì nữa” thì thấy trong “Giấy biên nhận” ghi ngày 28/8/2015 không thể hiện nội dung ông L2 thanh toán số tiền vay 600.000.000đ; không thể hiện về việc hứa hẹn sẽ hủy hoặc trả lại bản gốc các giấy vay tiền ngày 10/8/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp. Ông L2 cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc đòi bà H3 trả lại bản gốc giấy vay tiền ngày 10/8/2015 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp; mặc dù ông L2 đã nhiều lần trực tiếp gặp bà H3 từ tháng 9/2015 đến khi bà H3 bị ốm khoảng tháng 11/2016 (khoảng hơn 01 năm).
Ông H, chị L, ông L2 đều thừa nhận sự việc sau khi bà H3 bị ốm thì hàng tháng ông L2 vẫn gửi trả số tiền lãi 7.800.000đ/ 01 tháng (chỉ sau khi bà H3 chết một thời gian thì ông L2 mới không tiếp tục trả nữa). Ông L2 cho rằng số tiền trả cho bà H3 hàng tháng (16 tháng, từ tháng 9/2015 đến hết năm 2016) là trả thay cho ông Nguyễn Văn K nhưng ông K thừa nhận, ông L2 cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về việc trả tiền thay cho ông K.
Đối với các kết luận giám định: Tại các kết luận giám định của V, Bộ C1 và kết luận giám định của Phòng giám định KTHS, Bộ Q có kết quả không giống nhau. Tuy nhiên hai kết quả giám định trên không mâu thuẫn, không đối lập nhau. Vì vậy cần xem xét, sử dụng kết luận giám định phù hợp với các chứng cứ khác trong vụ án để làm căn cứ giải quyết.
Theo Kết luận giám định số 339/KL-KTHS ngày 22/12/2022 của V, Bộ C1: “Chữ số “2” trong số “28” tại mục ngày ở dòng thứ 7 tính từ dưới lên trên mẫu cần giám định ký hiệu A là chữ số được viết thêm; Nội dung nguyên thủy tại vị trí chữ số “2” trong số “28” tại mục ngày ở dòng thứ 1 tính từ dưới lên trên mẫu cần giám định ký hiệu A đã bị tẩy xóa. Chữ số “2” hiện tại được viết sau khi tẩy xóa. Không xác định được nội dung nguyên thủy”. Ngoài ra, kết luận giám định này còn phù hợp với bản Trích Phụ lục chứng minh kết quả giám định gửi kèm theo tại Công văn số 138/GĐKTHS (P11) ngày 19/6/2023 của Phòng giám định KTHS, Bộ Q, cụ thể: “phân tích đặc điểm kỹ thuật tài liệu trên số “2” trước chữ số “8” trong chữ số đề ngày “28” cho thấy có tồn tại điểm khác với chữ số “2” tại dòng 9 (dưới lên), tuy nhiên điểm khác này không đủ cơ sở kết luận đây là chữ số do hai người khác nhau viết ra, vì vậy không đủ căn cứ để khẳng định đây có phải là số được viết điền thêm hay không”. Vì vậy, việc ông Trần L2 cho rằng đã thanh toán trả xong toàn bộ số tiền vay 600.000.000đ cho bà Nguyễn Thanh H3 vào ngày 28/8/2015 theo “Giấy biên nhận” ghi ngày 28/8/2015 là không có căn cứ.
Về tiền lãi: Trong hai “Giấy vay tiền (Kiêm giấy nhận tiền)” ngày 10/8/2015 giữa bà H3 và vợ chồng ông L2, bà P đều không ghi lãi suất. Tuy nhiên tại Thỏa thuận vay vốn số 01/TT/VVDS, Hợp đồng vay vốn số 01/HĐ/VVDS được bà H3, ông L2, bà P lập cùng ngày 10/8/2015 đều có ghi mức lãi suất là 1,5%/ tháng; phù
hợp với lời khai của ông L2 về mức lãi suất 1,5%/ tháng (tức 18%/ năm) mà các bên đã thỏa thuận khi thực hiện giao dịch vay tiền. Như vậy, mức lãi suất 1,5 %/ tháng (tức 18%/năm) theo thỏa thuận giữa bà H3 và vợ chồng ông L2, bà P tại Thỏa thuận vay vốn số 01/TT/VVDS, Hợp đồng vay vốn số 01/HĐ/VVDS lập ngày 10/8/2015 là phù hợp mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chị L, ông H yêu cầu vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ thanh toán trả số tiền nợ gốc của hai khoản vay ngày 10/8/2015 là 600.000.000₫ và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là 1.318.500.000đ, cụ thể: tiền lãi từ ngày 10/8/2015 đến ngày 31/12/2016 tính theo mức lãi suất 09%/ năm là 72.000.000đ; tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 10/8/2018 tính theo mức lãi suất 18%/năm là 180.000.000đ; tiền lãi từ ngày 11/8/2018 đến ngày 09/8/2024 tính theo mức lãi suất 30%/ năm là 1.066.500.000đ. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 1.918.500.000đ (Một tỷ chín trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Chị L, ông H yêu cầu trả tiền lãi từ ngày 11/8/2018 đến ngày 09/8/2024 tính theo mức lãi suất 30%/ năm với số tiền lãi 1.066.500.000đ là vượt quá theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên phần yêu cầu vượt quá không được chấp nhận.
Đối với số tiền ông L2 đã trả là 124.000.000đ; ông H, chị L đồng ý và đề nghị đối trừ vào số tiền lãi phát sinh. Vì vậy, cần đối trừ số tiền 124.000.000₫ ông L2 đã trả vào số tiền lãi phát sinh theo quy định.
Ông H đề nghị giao toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi cho chị L được hưởng nên cần ghi nhận sự tự nguyện này.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, chị L về số tiền gốc; chấp nhận một phần yêu cầu về số tiền lãi, cụ thể: Buộc vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho chị Đặng Thùy L số tiền nợ gốc của hai khoản vay ngày 10/8/2015 là 600.000.000đ và số tiền lãi phát sinh gồm: Tiền lãi từ ngày 10/8/2015 đến ngày 31/12/2016 tính theo mức lãi suất 09%/ năm là 72.000.000đ (theo yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa); tiền lãi từ ngày 01/01/2017 đến ngày 13/8/2024 là 07 năm 07 tháng 12 ngày: (600.000.000₫ x 18% x 07 năm = 756.000.000₫) + (600.000.000₫ x 18%/12 x 07 tháng = 63.000.000₫) + (600.000.000₫ x 18%/360 x 12 ngày = 3.600.000đ) = 822.600.000đ. Tổng cộng tiền lãi là 894.600.000đ. Đối trừ số tiền 124.000.000đ ông L2 đã trả còn số tiền nợ lãi là 770.600.000đ. Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh là 1.370.600.000đ (Một tỷ ba trăm bẩy mươi triệu sáu trăm nghìn đồng).
Bản án sơ thẩm tuyên buộc vợ chồng ông Trần L2, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho chị Đặng Thùy L tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh là 1.370.600.000đ; không chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thùy L, ông Đặng Mạnh H về số tiền lãi vượt quá là 422.700.000đ; buộc chị Đặng Thùy L phải trả lại cho ông Trần L2: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 811646, số vào sổ cấp GCN: CH02715 tại thửa đất số 548; tờ bản đồ số 80; diện tích 208,3 m2 địa chỉ thửa đất: thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang do UBND huyện L cấp ngày 09/7/2015 mang tên ông Trần L2, sinh năm 1969, CMND số [...]; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ.
[2.2] Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Trần L2 về việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2024/DS- ST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chị L và ông L2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 289, khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần bản án đối với yêu cầu kháng cáo của chị Đặng Thùy L. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Lưu. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 50/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Căn cứ Điều 29 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc chị Đặng Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007773 ngày 27/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Buộc ông Trần Lưu P1 chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007774 ngày 28/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 231/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 231/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
