|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 231/2024/HS-ST Ngày: 13/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Trương Thị Thái
- 2. Ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký TAND huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 225/2024/HSST ngày 16/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN TRỌNG T
(tên gọi khác: Không); sinh năm 1996; giới tính: Nam; ĐKHK và ở tại: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Trọng T1; con bà Lê Thị T2; Vợ là Nguyễn Thị H; có 01 con sinh năm 2016; Danh chỉ bản: 000000414, lập ngày 14/6/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 24/2018/HS-ST ngày 03/5/2028, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 19/01/2020 (đã xóa án tích) – Bản án số 84/2021/HS-ST ngày 23/3/2021, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 29/01/2022 (đã xóa án tích); Vụ án này, bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Anh Tô Xuân V, sinh năm 2000; nơi ở: Đ xóm T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2004; nơi ở: Thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. (vắng mặt)
Người có quyền lợi liên quan:
anh Nguyễn Công H1, sinh năm 1989; HKTT: Xóm 5, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; ở tại: số 9 V, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03h30 ngày 02/6/2024, Nguyễn Trọng T đi lang thang tại khu vực ngõ 68, thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội thì quan sát thấy nhà trọ 5 tầng tại số 49 ngách 136/6/33, ngõ 68, thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội có ban công tầng 2 hở có thể trèo lên được nên T đã đi vòng ra phía bên cạnh, bám vào hàng rào trèo lên ban công tầng 2. Khi lên tầng 2, T quan sát thấy cửa phòng số 203 không khóa ngoài, có ô vuông trên khóa cửa nên T đã thò tay vào kéo then cài cửa để vào phòng. Khi vào phòng, T thấy anh Tô Quốc V1 và chị Nguyễn Thị L đang ngủ trên giường, trên đầu giường có 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu vàng, ở góc giường trong có 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh, trên bàn làm việc có 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu LONGINES MASTER COLLECTION có Model/Réf.No 26285797, Case/Boite No: 44071380 và 01 đồng hồ nhãn hiệu OlymPianus OP990-45, trên ô cửa sổ có 200.000 đồng nên T đã trộm cắp số tài sản trên, cất vào trong túi quần sooc màu đen đang mặc rồi trèo theo lối cũ đi xuống. Sau khi trộm cắp tài sản, T đi bộ đến phố K thì dừng lại kiểm tra 02 chiếc điện thoại thấy đều cài mật khẩu mở màn hình nên T đã tháo sim bên trong 02 điện thoại ra để lắp vào điện thoại khác của T rồi cài đặt ứng dụng My Viettel thì xác định được thông tin chủ thuê bao của chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max màu vàng tên L có ngày tháng năm sinh là 21/7/2004. T thử nhập dãy số 210704 thì mở được mật khẩu màn hình điện thoại của chị L. Sau đó, T thấy trong điện thoại chị L có ứng dụng Z đã đăng nhập sẵn tài khoản và có liên kết với tài khoản ngân hàng M. Thấy vậy, T đã nạp 2.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M vào tài khoản Z bằng cách nhập mật khẩu là dãy số 210704. Sau đó, chuyển số tiền 2.500.000 đồng này từ tài khoản Zalopay sang tài khoản ngân hàng M số 6688822081983 mang tên Nguyen Vo H để đầu tư tiền ảo. Sau đó T mang 02 chiếc điện thoại trộm cắp được ra khu vực bến xe G, quận H, Hà Nội rồi bán cho 01 người không quen biết với giá 8.000.000 đồng.
Sau đó, để bán 02 chiếc đồng hồ đã trộm cắp ở trên, T đã dùng tài khoản zalo đăng ký bằng số thuê bao 0396853509 liên lạc với zalo tên “Huệ đồng hồ” của chị Bùi Thị H2 (sinh năm: 1993; Nơi cư trú; xã V, huyện T, Hải Dương) là cửa hàng mà T đã từng bảo dưỡng đồng hồ trước đó để hỏi giá 02 chiếc đồng hồ đã trộm cắp được, nếu được giá thì T sẽ bán. Chị H2 và T thỏa thuận mua bán chiếc đồng hồ Longines với giá 25.000.000 đồng, sau đó chị H2 gửi cho T số điện thoại của anh Nguyễn Công H1 (là chồng của chị H2) để T liên lạc mua bán đồng hồ. Khoảng 11 giờ 36 phút ngày 03/6/2024, T đến cửa hàng của anh H1 tại địa chỉ số 9 đường 23, khu đô thị thành phố G, phường C, quận B, Hà Nội để gặp anh H1 bán đồng hồ. Tại đây, T nói với anh H1 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Longines có mặt hình tròn mầu trắng, dây bằng kim loại màu trắng vàng là của T mua lướt trên mạng xã hội nên anh H1 đồng ý mua với giá 24.000.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản 8613071995 ngân hàng M của Nguyễn Trọng T.
Sau khi mua được đồng hồ, anh H1 đã rao bán chiếc đồng hồ trên trên các trang mạng xã hội thì anh Tô Xuân V đã liên hệ với anh H1. Khoảng 12 giờ 00 ngày 04/06/2024, anh V đến gặp anh H1 và xác định chiếc đồng hồ anh H1 mua của T là đồng hồ anh V đã bị mất trộm nên đã nhờ anh H1 nếu thấy T đến bán đồng hồ nhãn hiệu Olym Pianus OP990-45 thì báo cho anh V. Ngày 05/6/2024, T liên hệ với anh H1 để bán chiếc đồng hồ nhãn hiệu Olym Pianus OP990-45, anh H1 đồng ý và hẹn T đến cửa hàng của anh H1 tại địa chỉ số 74, phường T, quận T, Hà Nội để giao dịch. Khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, T đến cửa hàng của anh H1 để bán chiếc đồng hồ đã trộm cắp thì bị anh H1, anh V phối hợp cơ quan công an bắt giữ và đưa T về trụ sở làm việc. Cơ quan công an đã tạm giữ của T: 01 đồng hồ nhãn hiệu Olym Pianus màu đen đã qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung S21 màu đen đã qua sử dụng, 01 bộ quần áo cộc tay màu đen, 01 đôi dép giả da màu đen, 01 thẻ ATM của ngân hàng M1 mang tên NGUYEN TRONG TUAN, 01 Ví mầu nâu đã qua sử dụng, trên Ví có các chữ, số: Nguyễn Trọng T 13.07.1996, 01 căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 cùng mang tên Nguyễn Trọng T. Ngoài ra, anh H1 đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Longines đã mua của T trước đó để phục vụ điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận tội của T phù hợp chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. T khai số tiền 24.000.000 đồng do bán đồng hồ trộm cắp, số tiền 8.000.000 đồng do bán điện thoại trộm cắp và số tiền 200.000 đồng do trộm cắp mà có, T đã chi tiêu cá nhân hết.
Tại Cơ quan điều tra, anh Tô Quốc V1 và chị Nguyễn Thị L khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Trọng T và các tài liệu trong hồ sơ. Chị L khai thêm: Sau khi bị mất điện thoại, chị L kiểm tra tài khoản ngân hàng phát hiện ngoài số tiền 2.500.000 đồng còn bị mất số tiền 100.000 đồng đã được sử dụng để mua thẻ nạp điện thoại. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an T có công văn đề nghị Công ty cổ phần T3 cung cấp thông tin liên quan đến số thuê bao thực hiện nạp thẻ điện thoại trên, nhưng đến nay thẻ chưa sử dụng và chưa xác định được ai mua thẻ, chị L cũng không yêu cầu bồi thường số tiền 100.000 đồng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tách phần hồ sơ liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ.
Ngày 11/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T yêu cầu định giá tài sản đối với số tài sản Nguyễn Trọng T đã trộm cắp. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HDĐGTS ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- “- 01 đồng hồ nhãn hiệu LONGINES MASTER COLLECTION có Model/Réf.No 26285797, Case/Boite No: 44071380 có trị giá: 41.000.000 đồng.
- - 01 đồng hồ nhãn hiệu Olym Pianus OP990-45 có trị giá: 4.200.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max/256 GB màu xanh đã qua sử dụng trị giá 11.700.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max 128 GB màu xanh đã qua sử dụng trị giá 10.700.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Trọng T đã trộm cắp là 67.600.000 đồng”.
Đối với anh Nguyễn Công H1, quá trình điều tra xác định: anh H1 mua chiếc đồng hồ nhãn hiệu Longines của T, nhưng không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện T không đề nghị xử lý.
Đối với 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Longines Master Collection, 01 chiếc đồng hồ Olym Pianus tạm giữ của anh Nguyễn Công H1 và Nguyễn Trọng T, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Tô Xuân V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả tài sản cho anh V, anh V đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với người đã mua 02 chiếc điện thoại mà T trộm cắp, do T không biết nhân thân, lai lịch nên cơ quan Điều tra chưa có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung S21 màu đen đã qua sử dụng tạm giữ của T: quá trình điều tra xác định là tài sản của T sử dụng liên lạc với anh Nguyễn Công H1 để bán 02 chiếc đồng hồ đã trộm cắp.
Đối với 01 bộ quần áo cộc tay màu đen, 01 đôi dép giả da màu đen, 01 thẻ ATM của ngân hàng M1 mang tên NGUYEN TRONG TUAN, 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 và 01 Ví mầu nâu tạm giữ của T: quá trình điều tra xác minh là tài sản của T không sử dụng vào hành vi phạm tội.
Đối với số tài khoản 6688822081983 của ngân hàng M mang tên Nguyen Vo Hong Quan đến nay chưa xác minh được chủ tài khoản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tách riêng xác minh để xử lý sau.
Về dân sự: Anh Tô Xuân V yêu cầu Nguyễn Trọng T bồi thường 12.200.000 đồng, trong đó 12.000.000 đồng là trị giá chiếc điện thoại bị mất và 200.000 đồng tiền mặt T đã chiếm đoạt; Chị Nguyễn Thị L yêu cầu T bồi thường số tiền 12.500.000 đồng, trong đó 10.000.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại và 2.500.000 đồng là số tiền T chuyển khoản chiếm đoạt. Chị L không yêu cầu T bồi thường 100.000 đồng là số tiền chuyển khoản để mua thẻ điện thoại; Anh Nguyễn Công H1 yêu cầu T bồi thường số tiền 24.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKS-TT ngày 16/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Trọng T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo cũng thừa nhận số tiền phải bồi thường thiệt hại cho anh V, chị L, anh H1.
Người bị hại, người có quyền lợi liên quan giữ nguyên yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 202/CT-VKS-TT ngày 16/9/2024 và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T với mức án từ 03 năm, 03 tháng tù đến 03 năm, 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Buộc bị cáo T phải bồi thường cho anh V 11.900.000 đồng; Bồi thường cho chị L 12.500.000 đồng; Bồi thường cho anh H1 24.000.000 đồng. Tịch thu sung công 01 điện thoại Samsung S21 màu đen. Trả lại cho bị cáo 01 bộ quần áo cộc tay màu đen, 01 đôi dép giả da màu đen, 01 thẻ ATM của ngân hàng M1 mang tên NGUYEN TRONG TUAN, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trọng T, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Trọng T và 01 Ví mầu nâu đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ 50 phút, ngày 02/6/2024 tại nhà 5 tầng, số 49 ngách 136/6/33, ngõ 68, thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội, Nguyễn Trọng T đã trèo lên tầng 2 vào phòng trọ số 203 lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 12 pro max/256GB màu xanh, 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu LONGINES MASTER COLLECTION có Model/Réf.No 26285797, Case/Boite No: 44071380, 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Olym Pianus OP990-45 và 200.000 đồng của anh Tô Xuân V; chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max/128GB màu vàng của chị Nguyễn Thị L. Sau đó, T đã dùng điện thoại của chị L để tiếp tục chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của chị Nguyễn Thị L. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Trọng T chiếm đoạt của anh Tô Xuân V và chị Nguyễn Thị L là 70.300.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Trọng T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Sau khi bị cáo trộm cắp được số tài sản của anh V và chị L được định giá 67.600.000 đồng, bị cáo tiếp tục chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng trong tài khoản của chị L, do vậy bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng T sinh năm 1996, trình độ văn hóa 12/12. Bị cáo đã từng 02 lần bị Tòa án xử phạt tù và phải chấp hành án về tội trộm cắp tài sản, như vậy, bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Mặc dù mới chấp hành xong hình phạt tù, nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, lao động và muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với giá trị lớn. Hơn nữa, sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo tiếp tục truy cập điện thoại của người bị hại để chiếm đoạt tiếp tiền trong tài khoản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại đến tài sản của công dân, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng. Do bị cáo hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Các vấn đề khác của vụ án và án phí:
- - Về dân sự: 02 chiếc điện thoại di động bị cáo chiếm đoạt của anh V và chị L, bị cáo đã bán lấy tiền chi tiêu cá nhân hết, hiện không thu hồi được 02 chiếc điện thoại trên; Số tiền 200.000 đồng của anh V và số tiền 2.500.000 đồng của chị L, bị cáo cũng đã chi tiêu hết. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh V giá trị chiếc điện thoại Iphone 12 pro max/256GB màu xanh được định giá là 11.700.000 đồng và 200.000 đồng tiền mặt, tổng cộng là 11.900.000 đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị L giá trị chiếc điện thoại Iphone 12 Pro max/128GB màu vàng được định giá là 10.700.000 đồng và 2.500.000 đồng tiền chuyển khoản, tổng cộng là 13.200.000 đồng.
Đối với anh H1, bị cáo đã bán chiếc đồng hồ và nhận từ anh H1 24 triệu đồng. Quá trình điều tra, anh H1 đã tự nguyện nộp lại chiếc đồng hồ đã mua của bị cáo, do vậy cần buộc bị cáo phải trả lại anh H1 số tiền 24.000.000 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án và có quyết định thi hành án, bị cáo chưa trả các khoản tiền trên thì bị cáo còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- - Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại Samsung S21 màu đen của bị cáo là công cụ, phương tiện để bị cáo giao dịch bán tài sản do phạm tội mà có nên tịch thu sung công quỹ. Đối với 01 bộ quần áo cộc tay màu đen, 01 đôi dép giả da màu đen, 01 thẻ ATM của ngân hàng M1, 01 căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Nguyễn Trọng T và 01 Ví mầu nâu đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.455.000 đồng án phí bồi thường thiệt hại. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Trọng T - sinh năm 1996
Phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Trọng T 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hạn tù kể từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam là ngày 06/6/2024.
Căn cứ: Điều 584; 585; 586; 589; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Điều 47; 48 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
*/Dân sự: Buộc Nguyễn Trọng T phải bồi thường, cụ thể như sau:
- - Trả cho anh Tô Xuân V 11.900.000 (Mười một triệu, chín trăm nghìn) đồng.
- - Trả cho chị Nguyễn Thị L 13.200.000 ( Mười ba triệu, hai trăm nghìn) đồng
- - Trả cho anh Nguyễn Công H1 24.000.000 ( Hai mươi bốn triệu) đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn xin thi hành án và quyết định thi hành án, bị cáo Nguyễn Trọng T chưa trả các khoản tiền bồi thường thiệt hại phải thi hành án thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
*/Vật chứng: Đối với số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024 được xử lý như sau:
- - Tịch thu sung công quỹ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung S21 màu đen đã qua sử dụng.
- - Trả lại Nguyễn Trọng T các đồ vật sau: 01 thẻ ATM Ngân hàng M1, trên có in các dòng chữ, số, chữ viết: “9704 2220 3404 5260 NGUYEN TRONG TUAN”; 01 thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Trọng T; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Nguyễn Trọng T; 01 bộ quần áo cộc tay mầu đen; 01 đôi dép giả da mầu đen; 01 Ví mầu nâu đã qua sử dụng, trên có các chữ, số Nguyễn Trọng T 13.07.1996.
*/Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Trọng T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, 2.455.000 (Hai triệu, bốn trăm năm nhăm nghìn) đồng án phí bồi thường thiệt hại và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Tô Xuân V có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
Chị Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Nguyễn Công H1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
|
Nơi nhận bản án:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |
Bản án số 231/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 231/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
