|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2024/DS-PT Ngày: 25 tháng 9 năm 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
- Các Thẩm phán: ông Trần Minh Hải và bà Trịnh Ngọc Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 192/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 233/2024/QĐ-PT ngày 30/7/2024 và Thông báo mở lại phiên toà số 126/TB-TA ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Trần Thị T (T1), sinh năm 1925 (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị T (Thãnh):
- Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1955; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Cọp E, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bà D, ông E: bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; là người đại diện hợp pháp của bà D, ông E (văn bản ủy quyền ngày 21/10/2015) (có mặt).
- Bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1965 (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn C:
- Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Tấn T3, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)..
- Ông Huỳnh Hữu T4, sinh năm 1987 (chết)
+ Ông Huỳnh Văn C1, sinh năm 1971 (chết)
Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ ông Huỳnh Hữu T4, ông Huỳnh Văn C1; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Hoa Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Minh C2, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Phước S, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Huỳnh Phước T5, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
-
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Tấn T3, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Cháu Huỳnh Trung T7, sinh năm 2015; Người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Trung H, bà Nguyễn Ngọc T6 (vắng mặt).
- Bà Văng Thị H1, sinh năm 1964 (chết); địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H1:
- Ông Huỳnh Tấn T3, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Cẩm N, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Phương T8, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Ngọc T6, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Trần Thị D1 (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà D1 gồm:
- Ông Lê Văn L1, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lê Văn C3, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lê Văn Á, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lê Thị C4, sinh năm 1955; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1966; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Lưu Thị S2, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lê Thanh H2, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lê Thanh H3, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lê Công P, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn K (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông K gồm:
- Ông Huỳnh Văn S1, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị L2, sinh năm 1968; địa chỉ: số C, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị K1; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn M (chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M gồm:
- Bà Trần Thị N2, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Trúc L3, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn S3, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị M1, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn L4, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Đ1, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Bà Huỳnh Thị L5, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị L6, sinh năm 1937; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, các biên bản hòa giải đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn Trần Thị T là bà Huỳnh Thị X trình bày: nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Huỳnh Văn T9, cụ Võ Thị H4 (cha mẹ của ông Q - chồng bà T) sử dụng trước năm 1975. Cụ T9, cụ H4 đã chết không để lại di chúc. Các anh em của ông Q tự phân chia đất đều cho 5 anh, chị, em cùng thống nhất cắm trụ ranh. Phần đất chồng bà T là ông Huỳnh Văn Q được hưởng là 1.087m², thuộc thửa đất số 34 gồm cả phần đất thổ cư và vườn tạp. Phần đất ông K (cha ông S1) được hưởng 1.230m². Việc phân chia đất giữa các anh chị em của ông Q không lập bằng văn bản, người ngoài không ai biết. Đến năm 2000, khi có chủ trương đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chồng bà T là ông Huỳnh Văn Q đứng ra kê khai bao gồm cả phần đất tranh chấp, trên đất có trồng nhiều cây gáo. Đến ngày 27/11/2013, bà T phát hiện trụ ranh giữa phần đất của bà với đất của ông Huỳnh Văn S1 mất thì bà cắm lại trụ ranh nhưng ông S1 không đồng ý. Phần đất tranh chấp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, bà yêu cầu ông Huỳnh Văn S1 trả lại diện tích mặt tiền 7,75m, mặt hậu dài 5,8m, dài khoảng 46m, tổng diện tích 298m², đất tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn ông Huỳnh Văn S1 trình bày: nguồn gốc đất tranh chấp là của ông bà nội ông tên Huỳnh Văn T9, Võ Thị H4 để lại cho cha ông Huỳnh Văn K, phần đất ông S1 sử dụng từ năm 1989. Đến năm 2013, thì xảy ra tranh chấp với vợ ông Huỳnh Văn Q là bà Trần Thị T. Các cây trồng trên đất ông trồng từ năm 2000. Phần đất ông quản lý, sử dụng có cắm trụ đá để xác định phần đất đã phân chia từ trước. Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy quyền sử dụng đất. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T (T1) và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị T.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/02/2024, bà Huỳnh Thị X có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị X vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn trình bày: ông vẫn giữ nguyên trình bày ở cấp sơ thẩm, yêu cầu Tòa án không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Bà X kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ; ông S1 không có đơn yêu cầu phản tố, không có yêu cầu công nhận cho ông S1 được quyền sử dụng diện tích 298m² nhưng trong phần quyết định của bản án tuyên: “Sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 02/8/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C là một phần không tách rời của bản án. Các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định” là không đúng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị X là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị T (Thãnh); sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới về cách tuyên và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T (T1) và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị T (Thãnh) về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn S1 trả lại diện tích 298m², đất tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5 theo sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 02/8/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C. Bà Huỳnh Thị X phải chịu chi phí tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị X kháng cáo trong hạn luật định và có đóng tạm ứng án phí đầy đủ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đương sự tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng các ông bà Huỳnh Thị Cẩm N, Lê Văn L1, Lưu Thị S2, Lê Thanh H3, Trần Thị N2, Lê Thị C4, Lê Văn C3, Lê Thị B, Lê Văn Á, Lê Công P, Lê Thanh H2, Huỳnh Thị M1, Huỳnh Thị Đ1, Huỳnh Văn S3, Huỳnh Minh C2, Huỳnh Thị Hoa Đ, Nguyễn Thị Bạch T2, Huỳnh Phước T5, Huỳnh Tấn T3, Huỳnh Phước S, Huỳnh Thị Trúc L3, Nguyễn Thị C5, Nguyễn Thị L, Huỳnh Thị Phương T10, Huỳnh Văn L4, Huỳnh Thị L5, Huỳnh Thị L6 có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; những người còn lại vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà X: bà Huỳnh Thị X yêu cầu ông Huỳnh Văn S1 trả diện tích đất 298m² tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Các bên đương sự đều thống nhất nguồn gốc phần đất tranh chấp của cụ Huỳnh Văn T9, cụ Võ Thị H4 để lại. Bà X cho rằng đất tranh chấp là của cha bà là ông Huỳnh Văn Q được anh em chia phần và sử dụng ổn định. Đến năm 2000, ông Q đã kê khai, đăng ký nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2013, trong quá trình sử dụng ông S1 đã lấn chiếm đất nên xảy ra tranh chấp.
Thấy rằng, ông Q đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp nhưng đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kết quả xác minh ngày 10/02/2023 của Tòa án xác định: phần đất tranh chấp giữa bà T (mẹ bà X) với ông S1 là cái hầm được gia đình ông S1 lấp hầm làm đường đi và sử dụng ổn định từ khoảng trước năm 1990 cho đến nay.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/9/2024, thể hiện trên đất có: 01 phần mộ của bà Huỳnh Thị X1 là em của ông S1 được chôn cất năm 1988; 16 gốc Bạch Đàn đã cắt bỏ phần ngọn; 15 cây Mít khoảng 2-3 năm tuổi; 01 bụi Tre khoảng 50 năm tuổi; 02 cây Vú Sữa khoảng 2-3 năm tuổi; 02 bụi Trúc khoảng 30 năm tuổi; 03 cây Xoài khoảng 2-3 năm tuổi; 04 bụi Chuối. Bà X thừa nhận bụi tre do ông Huỳnh Văn T9 trồng, các cây trồng còn lại là do bên phía gia đình ông S1 trồng. Như vậy, có cơ sở xác định gia đình ông S1 đã có quá trình sử dụng ổn định lâu dài diện tích đất tranh chấp từ năm 1989 đến nay.
Bà X kháng cáo nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bà cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận.
Tuy nhiên, trong vụ án này phía bị đơn ông S1 không có đơn yêu cầu phản tố, không có yêu cầu công nhận cho ông S1 được quyền sử dụng diện tích 298m² nhưng trong phần quyết định của bản án tuyên: “Sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 02/8/2016 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C là một phần không tách rời của bản án. Các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định” là không đúng quy định. Do đó, cần sửa Quyết định của án sơ thẩm phần này.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, đo đạc và định giá trong giai đoạn sơ và phúc thẩm tổng cộng 3.869.030 đồng. Do yêu cầu không được chấp nhận nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T phải chịu chi phí này.
[4] Về án phí: những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và các Điều 26, 34, 35, 144, 147, 165, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị X.
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T (T1) và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị T.
- Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà T phải chịu chi phí tố tụng là 3.869.030 đồng (bà X đã nộp xong).
- Về án phí:
- Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí do bà T đã nộp 466.000 đồng theo biên lai số 0003503 ngày 30/10/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (số tiền còn lại do bà X đại diện nhận).
- Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 231/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 231/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Trần Thị T BĐ: Huỳnh Văn S1
