TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/DS-ST
Ngày: 24/9/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- bà Cao Thị Loan
- bà Nguyễn Thị Nhung
- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 262/2024/TLST - DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXX - DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị P, sinh năm 1982
Địa chỉ: E ấp P, xã P, TP ., Tiền Giang.
Bị đơn: chị Phạm Thị Hải N, sinh năm 1982
Địa chỉ: 1 L, phường E, TP ., Tiền Giang
chị P có mặt; chị N vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 5 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Thị P trình bày:
Đầu năm 2023 chị Phạm Thị Hải N có tổ chức hụi do bà N làm chủ hụi, chị tham gia hụi viên. Việc tổ chức chơi hụi được lập thành các nhóm trên zalo do bà N tạo lập. Chị đã chuyển tiền cho bà N qua tài khoản của bà N tại ngân hàng. Ngày 02/6/2023, chị N tuyên bố bể hụi và giải tán các nhóm được lập trên zalo về các dây hụi. Chị N có xác nhận tổng cộng tiền hụi chị N còn nợ chị là 73.040.000 đồng. Chị có nhiều lần yêu cầu chị N chuyển trả tiền hụi nhưng chị N không thực hiện và cố tình tránh né.
Nay chị yêu cầu chị N trả lại số tiền nợ hụi là 73.040.000 đồng.
- Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập chị N đến Toà để tham gia phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa nhưng chị N đều vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của chị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: chị N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: chị P yêu cầu chị N trả số tiền nợ hụi, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3] Chị P khởi kiện yêu cầu chị N trả tiền nợ hụi là 73.040.000 đồng. Chị P trình bày có tham gia hụi do chị N tổ chức, tuy nhiên do hụi được tổ chức theo ngày, tuần và nhiều dây hụi nên chị không liệt kê được cụ thể nội dung chi tiết từng dây hụi về loại hụi, số lượng hụi viên tham gia,....Căn cứ vào bảng sao kê giao dịch giữa chị P với chị N từ tháng 01/2023 đến tháng 06/2023 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K – chi nhánh T do chị P cung cấp thể hiện từ ngày 01/01/2023 đến ngày 30/6/2023 chị P có chuyển cho chị N số tiền tổng cộng là 298.665.000 đồng trong đó có 292.095.000 đồng thể hiện nội dung của việc chuyển tiền là “chuyen tien hui”. Do đó, có cơ sở xác định giữa chị P và chị N đã xác lập hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Căn cứ vào bảng sao kê giao dịch nêu trên thể hiện chị N đã chuyển tiền cho chị P số tiền 216.070.000 đồng. Số tiền chênh lệch mà chị P đã chuyển cho chị N là 76.025.000 đồng.
[5] Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N tuy nhiên chị N không đến tham dự phiên tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị P. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị N phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị N còn nợ chị P số tiền là 73.040.000 đồng như chị P yêu cầu.
[6] Chị N đã tuyên bố vỡ hụi nhưng không trả lại tiền hụi cho chị P là vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P, buộc chị N trả cho chị P số tiền nợ là 73.040.000 đồng.
[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị P. Buộc chị Phạm Thị Hải N trả cho chị Huỳnh Thị P số tiền 73.040.000 đồng (Bảy mươi ba triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
2. Về án phí:
Chị Phạm Thị Hải N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.652.000 đồng.
Chị Huỳnh Thị P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.826.000 đồng theo biên lai thu tiền số 6217 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Huỳnh Thị P cho đến khi thi hành án xong, chị Phạm Thị Hải N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |
Bản án số 231/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự
- Số bản án: 231/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
