|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Ông Nguyễn Nam Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đồng Duy L; nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:
Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 28 tháng 02 năm 1999. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc một thời gian cho đến năm 2016, anh chị bắt đầu sống ly thân. Năm 2017, anh L đi ra nước ngoài (Đài Loan), vợ chồng không có thời gian gần gũi, chia sẻ với nhau về mặt tình cảm cũng như những khó khăn trong công việc và trong cuộc sống. Anh L không liên lạc về với chị T, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị T đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn anh Đồng Duy L.
Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L có 02 con chung là Đồng Duy K, sinh ngày 11/10/2000 và cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010. Chị T yêu cầu Toà án giao cháu P cho chị nuôi dưỡng. Cháu K đã thành niên, đủ khả năng lao động nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh Đồng Duy L không có ý kiến trình bày.
Theo Biên bản xác minh ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng nơi chị T và anh L từng chung sống:
Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 28/02/1999. Quá trình chung sống, chị T và anh L có mâu thuẫn gì không thì địa phương không nắm được; nhưng không đánh cãi, chửi nhau gây ảnh hưởng đến làng xóm. Địa phương được biết, năm 2017, anh L sang Đài Loan lao động, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm. Về con chung, anh chị có 02 con chung là Đồng Duy K, sinh ngày 11/10/2000 và cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 28 tháng 02 năm 1999 là hôn nhân hợp pháp. Sau đó, anh L xuất khẩu lao động tại nước ngoài đến nay chưa trở về Việt Nam; vợ chồng cũng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin ly được ly hôn với anh L là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L có 02 con chung là Đồng Duy K, sinh ngày 11/10/2000 và cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010. Cháu K đã thành niên, có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Đồng Duy L đang cư trú tại nước ngoài. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Theo thông tin do Cục Q – Bộ C cung cấp thì anh Đồng Duy L đã xuất cảnh ngày 26/12/2018; tính đến thời điểm thụ lý vụ án, chưa có thông tin nhập cảnh. Nguyên đơn chị Phạm Thị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh L, không cung cấp được địa chỉ của anh Đồng Duy L ở nước ngoài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã hai lần gửi thông báo yêu cầu bố đẻ của anh L là ông Đồng Duy V cung cấp thông tin về địa chỉ tại nước ngoài của anh L và thông báo cho anh biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T và anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc trực tiếp với ông Đồng Duy V thì được ông cung cấp như sau: Sau khi nhận được các văn bản của Toà án, ông V đã thông tin cho anh Đồng Duy L về các yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T. Đối với yêu cầu đề nghị được ly hôn với anh L, anh L không có ý kiến gì. Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L có 02 con chung là Đồng Duy K, sinh ngày 11/10/2000 và cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010. Cháu P chưa đủ 18 tuổi, nhưng đã đủ lớn để nhận thức nên tôn trọng sự lựa chọn của cháu P. Về tài sản chung: Khi anh L về Việt Nam, anh chị sẽ giải quyết vấn đề tài sản chung sau. Về địa chỉ của anh Đồng Duy L tại nước ngoài, gia đình từ chối cung cấp địa chỉ của anh L cho Toà án để anh L tập trung làm ăn. Từ căn cứ trên, việc yêu cầu ly hôn của chị T thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Phạm Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Đồng Duy L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng ngày 28 tháng 02 năm 1999 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau đó, anh L xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Xét, chị T và anh L hiện mỗi người ở một nơi, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Phạm Thị T xin được ly hôn với anh Đồng Duy L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Đồng Duy L có 02 con chung là Đồng Duy K, sinh ngày 11/10/2000 và cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010. Cháu K đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét. Cháu P hiện đang sinh sống cùng chị T, anh L đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu P; cháu P cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Vì vậy, giao cháu Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[7] Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 228, 235, 238, 273, 469 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9 và các điều 56,58,81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
X:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Đồng Duy L.
2. Về con chung: Giao con chung Đồng Thị Thu P, sinh ngày 24/7/2010 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Phạm Thị T1 đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai số 0000419 ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang |
Bản án số 231/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 231/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
