|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 231/2023/HNGĐ-ST Ngày 18 - 8 - 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ và ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 219/2023/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2023/QĐST ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu trước khi xuất cảnh: Đội 3 - V, phường T, thị xã K, thành phố H. Hiện làm việc tại: Tỉnh Aicchi - thành phố T – thị trấn nishiyutaka – khu phố số C, số nhà B, Tòa nhà gurando, phòng số A205, Nhật Bản; vắng mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 2000. địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai anh Nguyễn Đình H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 06 năm 2021 tại T1 tại O, Nhật Bản. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không thể hòa hợp với nhau, quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Đời sống chung của vợ chồng lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân nhau. Hiện nay anh H đang làm việc ở Nhật Bản còn chị H1 đã về nhà mẹ đẻ ở Nghệ An để sinh sống. Anh H thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, việc tiếp tục duy trì mối quan hệ này làm cho cuộc sống của cả hai thêm mệt mỏi. Để ổn định cuộc sống cho cả hai, anh H làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.
Về con chung: Anh H và chị Nguyễn Thị H1 có 01 con chung tên Nguyễn Huyền T, sinh ngày 04/12/2021. Ly hôn, anh H đồng ý giao con chung Nguyễn Huyền T cho chị Nguyễn Thị H1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của chị Nguyễn Thị H1: Chị H1 thừa nhận điều kiện, thời gian, nguyên nhân và mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh Nguyễn Đình H đã trình bày. Hiện nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn anh H làm đơn ly hôn thì chị cũng đồng ý. Về con chung: Chị H1 và anh Nguyễn Đình H có 01 con chung tên Nguyễn Huyền T, sinh ngày 04/12/2021. Hiện tại, con chung đang ở với chị H1. Ly hôn nguyện vọng của chị H1 là được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Đình H hiện đang làm việc và sinh sống tại Nhật Bản. Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 đang cư trú tại khối C, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.2] Thủ tục hòa giải: Nguyên đơn anh Nguyễn Đình H hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Anh H đề nghị vắng mặt trong quá trình tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án (vắng mặt trong các phiên họp hòa giải và xét xử). Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
[1.3] Sự vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Đình H đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, chị Nguyễn Thị H1 đã cung cấp bản tự khai thể hiện ý kiến về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, do điều kiện sinh sống, làm việc ở xa và đi lại khó khăn anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 không tham gia phiên tòa được và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn vào ngày 07/6/2021, có đăng ký kết hôn tại T1 tại O, Nhật Bản. Hôn nhân giữa anh H và chị H1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không thể hòa hợp với nhau, quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Đời sống chung của vợ chồng lâm vào trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.Vợ chồng đã ly thân. Hiện nay anh H đang làm việc ở Nhật Bản còn chị H1 đã về nhà mẹ đẻ ở Nghệ An để sinh sống. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nguyễn Đình H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và chị Nguyễn Thị H1 cũng đồng ý ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[2.2] Con chung: Anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 có một con chung tên Nguyễn Huyền T, sinh ngày 04/12/2021, hiện đang do chị H1 nuôi dưỡng, chăm sóc. Ly hôn, chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay, anh H đang làm ăn sinh sống ở Nhật Bản, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cần giao con chung cho chị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H1 là người trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H. Dành quyền yêu cầu cấp nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Án phí: Anh Nguyễn Đình H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Đình H.
- Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.
-
Con chung:
- Giao con chung Nguyễn Huyền T, sinh ngày 04/12/2021 cho chị Nguyễn Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H1 chưa yêu cầu, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
- Án phí: Anh Nguyễn Đình H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004380 ngày 28/6/2023.
- Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 231/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 231/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình H - H
