|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 231/2023/DS-ST Ngày: 18-8-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Bé;
Bà Trang Thị Cẩm Nhuần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công K vụ án dân sự thụ lý số: 334/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 12 năm 2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2023/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 211/2022/QĐST-DS ngày ngày 07 tháng 7 năm 2023 và thông báo dời lịch phiên tòa số 20/TB-TA ngày 27-7-2023; giữa:
Nguyên đơn: Bà Thạch B, sinh năm 1965 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Tr, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh
Bị đơn: 1/ Bà Thạch S, sinh năm 1976 (vắng mặt không lý do)
2/ Ông Thạch K, sinh năm 1973 (vắng mặt không lý do)
Cùng địa chỉ: ấp Tr, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 29-8-2022 (bút lục 02) trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Thạch B trình bày:
Bà có tham gia góp hụi do bà Thạch S và ông Thạch K làm chủ hụi rất nhiều dây, cụ thể vào ngày 22-11-2019 DL, dây số 1, loại hụi 5.000.000 đồng chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, chủ hụi có giao danh sách hụi viên, có 18 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 1.500.000 đồng/lần hốt, 01 tháng kêu 02 lần, bà tham gia 01 phần và đóng được 08 lần hụi sống bằng 18.410.000 đồng, đến lần khui thứ 09 bà S úp hụi và chưa trả cho bà khoản tiền nào. Sau khi úp hụi giữa bà và bà S có đối chiếu số tiền bà đã đóng nhưng chỉ nói miệng, không lập văn bản đối chiếu. Sau khi đối chiếu xác định bà S và ông K nợ bà số tiền 18.410.000 đồng thì bà S có trả cho bà được 1.000.000 đồng.
Do đó bà yêu cầu bà Thạch S và ông Thạch K trả tiền hụi mà bà đã đóng tổng cộng bằng 17.410.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 22-11-2019 DL, dây hụi số 1). Bà không yêu cầu tính lãi hụi.
Bị đơn bà Thạch S và ông Thạch K đã được triệu tập hợp lệ tham gia hòa giải hai lần vào các ngày 10-3-2023 và 31-5-2023 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày
Những vấn đề các bên đương sự thống nhất và không thống nhất:
Do đồng bị đơn vắng mặt nên không xác định được nội dung các bên thống nhất và không thống nhất.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 468 và 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch B. Buộc bà Thạch S và ông Thạch K trả tiền hụi sống mà bà Thạch B đã đóng tổng cộng 17.410.000 đồng. Buộc bà Thạch S và ông Thạch K chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không có mặt và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Thạch B khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Đồng thời bị đơn bà Thạch S và ông Thạch K cư trú tại ấp Tr, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên xác định đây là vụ án dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ xét xử lần hai nhưng cả hai lần đều vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án vắng mặt bà B và bà S, ông K.
[2] Về nội dung:
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Thạch B yêu cầu bà Thạch S và ông Thạch K trả tiền hụi mà bà đã đóng tổng cộng bằng 17.410.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 22-11-2019 DL, dây hụi số 1). Bà không yêu cầu tính lãi hụi.
Xét hợp đồng góp hụi giữa bà B với bà S và ông K là có thật. Trong thời gian từ năm 2019 đến năm 2020 bà S và ông K làm chủ hụi của rất nhiều dây hụi, loại hụi khác nhau trong đó có các dây hụi số 1 loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 22-11-2019 DL. Sau khi úp hụi đáng lẽ bà S và ông K phải có nghĩa vụ thanh toán tiền hụi sống cho các hụi viên đã tham gia góp hụi, nhưng ông bà không thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên khi có yêu cầu, nên bà S và ông K đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên còn sống. Việc vi phạm này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà B nên bà B khởi kiện bà S và ông K là có căn cứ.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã ban hành quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 20/QĐ-YCCCTLCC và công văn số 20/CV-TA cùng ngày 15-5-2023 yêu cầu ông Thạch K và bà Thạch S cung cấp bản tự khai thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông, bà đối với đơn khởi kiện của bà B và các chứng cứ để Tòa án xem xét. Đồng thời gởi kèm theo đơn khởi kiện và danh sách hụi viên do bà B nộp để yêu cầu bà S và ông K đối chiếu danh sách hụi viên, số tiền nguyên đơn đã đóng hụi sống cho bà S và ông K để ông, bà có thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được công văn phải có văn bản phản hồi cho Tòa án nếu đối chiếu thấy số tiền nguyên đơn khởi kiện không đúng. Trong công văn còn nói rõ “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được các văn bản này hoặc được niêm yết hợp lệ tại nhà, nếu ông Thạch K và bà Thạch S và không đến Tòa án trình bày, không giao nộp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc không có ý kiến phản đối bằng văn bản, coi như thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn” (bút lục 22 và 23). Tất cả các văn bản trên đều được tống đạt hợp lệ cho bà S và ông K nhưng đến hôm nay bà S và ông K vẫn không đến Tòa để trình bày ý kiến hay có văn bản phản hồi liên quan đến dây hụi mà bà Thạch B khởi kiện. Đồng thời nguyên đơn bà Thạch B cung cấp được danh sách hụi viên của dây hụi (bút lục 04) và xác nhận của hụi viên cùng tham gia chơi chung dây hụi này (bút lục 05a). Bên cạnh đó, qua xác minh địa phương cũng thể hiện bà S và ông K có làm đầu thảo hụi và bà B có tham gia chơi hụi của bà S và ông K làm đầu thảo (bút lục 44-46). Từ những căn cứ trên cho thấy việc bà B có chơi hụi như bà trình bày là có thật, số tiền đóng hụi sống đã được nêu trong công văn tống đạt cho bà S và ông K nhưng không có phản hồi là số tiền đó không đúng. Do đó yêu cầu của bà B về việc buộc bà S và ông K trả tiền hụi mà bà đã đóng tổng cộng bằng 17.410.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 22-11-2019 DL, dây hụi số 1) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những cơ sở nhận định trên và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch B; Buộc bà Thạch S và ông Thạch K trả tiền hụi mà bà đã đóng tổng cộng bằng 17.410.000 đồng.
[3] Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Thạch S và ông Thạch K phải chịu theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Thạch B không phải chịu án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, 147 và Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch B.
- Buộc bà Thạch S và ông Thạch K trả cho bà Thạch B số tiền hụi sống đã đóng là 17.410.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng).
- Về án phí: Buộc bị đơn bà Thạch S và ông Thạch K phải chịu 870.500 đồng án phí dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công K để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Bà Thạch B không phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 460.250 đồng theo biên lai thu tiền số 0014389 ngày 08-12-2022; của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bà Thạch B.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Quyền |
Bản án số 231/2023/DS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Số bản án: 231/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hụi viên kiện đầu thảo
