Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/DS-ST

Ngày: 18-07-2024.

V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Châu Văn Bình.
  2. Ông Trần Văn Bé Ba.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh – kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 04 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1959;

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Đại diện theo ủy quyền là: Ông Phạm Ngọc D1, sinh năm 1972 (có mặt);

Địa chỉ: 2 ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn:

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967;

- Ông Đoàn Phương Q, sinh năm 1967 (xin vắng mặt);

- Đoàn Phương T1, sinh 1996 (xin vắng mặt);

- Lê Thị Lan C, sinh năm 1995 (xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: C ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Địa chỉ: 42/25/16 N, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Ngọc D1 trình bày: Ông Đoàn Phương Q và bà Nguyễn Thị T là vợ chồng có làm chủ nhiều dây hụi từ nhiều năm nay, bà D có tham gia chơi hụi do ông Q, bà T làm chủ với tư cách là hụi viên. Bà T có tên thường gọi là vợ Hai Q1, còn bà D có tên thường gọi là chị Ba C1.

Bà D tham gia các dây hụi do ông Q1, bà T làm chủ hụi gồm:

  • Dây hụi tháng 5.000.000 đồng, khui ngày 15/7/2023 âm lịch, gồm 25 phần, bà D tham gia 01 phần, có tên trong danh sách hụi là Chị Ba C1.

Dây hụi này bà D đóng được 6 phần hụi sống x 3.650.000 đồng = 21.900.000 đồng.

Trong quá trình tham gia chơi hụi: ông Q1, bà T là chủ hụi, anh T1 là con bà T gom hụi, chị Lan C là con dâu bà T lập danh sách hụi và nhận tiền đóng hụi.

Trong tháng 01/2024 âm lịch, đến kỳ khui hụi, ông Q1 và bà T ngưng việc chơi hụi, trong đó hụi chưa mãn, lại không trả tiền hụi sống cho bà D.

Trước đây bà D khởi kiện buộc ông Đoàn Phương Q, bà Nguyễn Thị T, anh Đoàn Phương T1, chị Lê Thị Lan C phải liên đới trả cho bà D số tiền hụi sống đã đóng là 21.900.000 đồng, yêu cầu thực hiện ngay khi án có hiệu lực.

Nay bà D xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể không yêu cầu Tòa án buộc anh Đoàn Phương T1, chị Lê Thị Lan C phải liên đới trả cho bà D số tiền hụi sống đã đóng là 21.900.000 đồng, yêu cầu thực hiện ngay khi án có hiệu lực. Bà D chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đoàn Phương Q, bà Nguyễn Thị T trả cho bà D số tiền hụi sống đã đóng là 21.900.000 đồng, yêu cầu thực hiện ngay khi án có hiệu lực

* Theo bản tự khai ngày 11/6/2024, quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị T và đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày: Năm 1988, bà T có kết hôn với ông Đoàn Phương Q và theo chồng về ở làm dâu nhà ba mẹ chồng, bà T đã làm dâu nhiều năm nên không có đi làm không có nguồn thu nhập ổn định. Năm 2008, bà T tổ chức làm hụi để có nguồn thu nhập để mua sắm tư trang cá nhân mà không lệ thuộc bên chồng. Bà T có tên thường gọi là vợ Hai Q1, chị Nguyễn Thị D là hụi viên có tham gia chơi hụi, chị D có tên thường gọi là Chị Ba C1. Do thời điểm covid, bị các hụi viên giựt nên bà T bị vỡ nợ vào tháng 02/2024. Bà D có đóng cho bà T 21.900.000 đồng tiền hụi sống. Nay bà D khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền 21.900.000 đồng, bà T đồng ý trả cho bà D số tiền 21.900.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 200.000 đồng cho đến khi hết nợ.

* Bị đơn ông Đoàn Phương Q trình bày: Vào năm 1988, ông Q kết hôn với bà T, hai người về ở chung nhà với cha mẹ ông Q, trong quá trình chung sống ông Q và bà T có 02 người con là Đoàn Phương T2 và Đoàn Phượng T3. Ông Q và bà T chung sống với nhau đến năm 2000 thì sinh ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên đã thỏa thuận sống cuộc sống ly thân, từ đó đến nay cuộc sống ai nấy lo, còn việc vô hụi góp vốn ông Q hoàn toàn không có tham gia hay kêu gọi hụi viên cũng như nguyên đơn đã thưa ông Q là không đúng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Ngọc D1 yêu cầu buộc bà T và ông Q có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng. Rút lại yêu cầu buộc Đoàn Phương T1 và Lê Thị Lan C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà T4 số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cử mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Q và bà T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện buộc Đoàn Phương T1 và Lê Thị Lan C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về pháp luật tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu bà T, ông Q, anh T1, chị Chi trả số tiền hụi còn nợ. Quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Về thẩm quyền: Các bị đơn có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo thụ lý là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của các đương sự: : Bị đơn ông Đoàn Phương Q, anh Đoàn Phương T1, chị Lê Thị Lan C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, anh S vắng mặt không lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Q, anh T1, chị C và ông S.

[2]. Về pháp luật nội dung:

[2.1] Về số tiền nợ:

Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bà T là ông S đều thừa nhận bà T có tổ chức các dây hụi như bà D trình bày và có nợ bà D số tiền hụi là 21.900.000 đồng. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định bà Nguyễn Thị T còn nợ bà D khoản tiền hụi là 21.900.000 đồng.

Theo biên bản xác minh ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo thì được biết ông Q và bà T hiện vẫn còn chung sống như vợ chồng cùng nhà tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bà T làm chủ hụi đã từ rất lâu. Bà T làm hụi chủ yếu thực hiện mở hụi và khui hụi, ông Q là chồng bà T, anh T1 là con trai bà T và chị C là con dâu bà T có nhiệm vụ giúp bà T gom hụi, nhận tiền hụi, giao hụi và lập danh sách hụi viên. Ngoài việc giúp bà T làm hụi thì ông Q có thu nhập thêm từ nguồn trồng dừa.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định ông Đoàn Phương Q là chồng bà T có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng.

[2.2] Về ý kiến của bà T xin trả dần hàng tháng 200.000 đồng cho bà D cho đến khi hết nợ. Đề nghị này của bà T không được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Đoàn Phương T1 và Lê Thị Lan C có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng. Căn cứ theo quy định, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc buộc Đoàn Phương T1 và Lê Thị Lan C có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị D có đơn xin miễn án phí và thuộc trường hợp được miễn án phí.

Ông Q và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35; Điều 39, Điều 71, Điều 92, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CPngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.

    Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Đoàn Phương Q có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị D số tiền nợ là 21.900.000 đồng (Hai mươi mốt triệu chín trăm ngàn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ theo nội dung quyết định này thì hàng tháng phải trả tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu buộc Đoàn Phương T1 và Lê Thị Lan C có nghĩa vụ liên đới cùng bà T trả cho bà D số tiền hụi còn nợ là 21.900.000 đồng.

    Hậu quả pháp lý: Bà Nguyễn Thị D được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Đoàn Phương Q và bà Nguyễn Thị T phải chịu 1.095.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết họp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - CCTHADS huyện Chợ Gạo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Phương Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 231/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng góp hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger