TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 231/2024/HS-ST Ngày 16-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
—————————
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thọ, ông Đoàn Văn Thống.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-HS ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Hồng Q; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1993; Tại Đắk Nông;
Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện nay: Số A H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông Đỗ Văn H (đã chết); Con bà Hoàng Thị O, sinh năm 1964.
Bị cáo có vợ là Đinh Thị Phương T, sinh năm 1997 và có 01 con, sinh năm 2022.
Nhân thân: Ngày 05/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/5/2018 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 đến nay, cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
- + Ông Phạm Minh H1, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số F H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- + Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số G N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Hồng Q là đối tượng sử dụng ma túy đá (Methamphetamine). Qua mối quan hệ xã hội, Q biết người nam giới tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0325.188.xxx bán ma tuý đá. Khoảng 12 giờ, ngày 31/5/2024, Q sử dụng điện thoại di động hiệu S1, gắn sim số 0333609609 gọi đến số điện thoại 0325.188.xxx của T2 hỏi mua nửa hộp 5 ma tuý đá thì T2 đồng ý bán với số tiền 2.200.000 đồng và yêu cầu Q đưa tiền trước rồi nhận ma tuý sau. Q nói T2 đến nhà Q tại địa chỉ: Số A đường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy tiền mua ma tuý. Một lúc sau, một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) đến trước cổng nhà Q lấy số tiền 2.200.000 đồng rồi rời đi. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, T2 gọi điện thoại cho Q nói ma tuý được cất giấu dưới cột bảng tên đường ở đầu đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, Q đi bộ từ nhà ra địa điểm trên lấy gói ma tuý cất giấu trong người đem về nhà để sử dụng cho bản thân. Khi Q đi đến trước số nhà D H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải Q đang mặc 01 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật)
Tại bản Kết luận giám định số 803/KL- KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Chất rắn dạng tinh thể bên trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,8902 gam, loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,8622 gam Methamphetamine đã được niêm phong
Tại Cáo trạng số 230/CT-VKSTP.BMT ngày 22/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Đỗ Hồng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng theo nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- - Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,8622 gam Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong gói niêm phong số 803/KL-KTHS ngày 06/6/2024, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trần Quang H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, gắn sim số 0333609609; Số imei mặt lưng: 354491510125159, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong máy, không kiểm tra số sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Hồng Q không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, tại trước số nhà D H, phường T, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang Đỗ Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải Q đang mặc 01 gói nylon bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,8902 gam.
Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) ........
c) Methamphetaminee, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Đỗ Hồng Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự để nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, làm hủy hoại sức khỏe con người, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự tại địa phương, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình xã hội hiện nay.
[5] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Đ vớimẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,8622 gam Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong gói niêm phong số 803/KL-KTHS ngày 06/6/2024, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trần Quang H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ là tang vật của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, gắn sim số 0333609609; Số imei mặt lưng: 354491510125159, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong máy, không kiểm tra số sim, điện thoại đã qua sử dụng được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với nguồn ma túy, bị cáo Q khai nhận mua của một người nam giới tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) và người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) đến lấy tiền mua ma túy của Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa xác minh được nhân thân lai lịch của các đối tượng nên tách hành vi của các đối tượng ra khỏi vụ án để xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
[7] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng là phù hợp, nên HĐXX cần chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Đỗ Hồng Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 31/5/2024.
2. Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,8622 gam Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng gửi giám định ban đầu, được niêm phong trong gói niêm phong số 803/KL-KTHS ngày 06/6/2024, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Trần Quang H2, Nguyễn Bá H3 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, gắn sim số 0333609609; Số imei mặt lưng: 354491510125159, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong máy, không kiểm tra số sim, điện thoại đã qua sử dụng.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Đỗ Hồng Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 231/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 231/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
