|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2024
“V/v tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Dũng
- Ông Lý Minh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 256/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: ấp 6, xã P, huyện C, tỉnh Đ. -
Bị đơn Anh Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T.
(Chị T có mặt, anh Q vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú T tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Chị và anh Q tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau cuộc sống chung không hạnh phúc. Hiện tại anh chị đã ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung có 02 con chung tên Nguyễn Tấn Phát sinh ngày 22/4/2011 và Nguyễn Nhất Phàm sinh ngày 10/10/2018 hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu Tòa giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Tấn Q đã được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Tấn Q dù được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Q.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú T và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống chị T xác định vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh chị đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay và không có trao đổi hàn gắn tình cảm. Đối với anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì về việc chị T xin ly hôn chứng tỏ anh không còn quan tâm đến quan hệ vợ chồng, không mong muốn đoàn tụ cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh Q là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Tấn Phát sinh ngày 22/4/2011 và Nguyễn Nhất Phàm sinh ngày 10/10/2018 hiện đang sống chung với chị T. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử xem xét giao 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tú T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Tú T được ly hôn với anh Nguyễn Tấn Q.
- Về con chung: giao 02 con chung tên Nguyễn Tấn Phát sinh ngày 22/4/2011 và Nguyễn Nhất Phàm sinh ngày 10/10/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tú T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015334 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè xem như thi hành xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với anh Q thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tân |
Bản án số 231/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 231/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRINH - QUANG
