Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/DS-ST

Ngày: 15 - 07 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Hoàng Mai, bà Phan Thị Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 07 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2024/TTST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 383/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 383/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Hồ Kim H, sinh năm 1969. Địa chỉ: ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1969

    Địa chỉ: số A Lô G, Khu dân cư A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ tạm trú: tổ G, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Hồ Kim H trình bày:

Ngày 18/03/2021, bà Huỳnh Ngọc P có vay của bà Hồ Kim H số tiền 250.000.000đ, mục đích làm ăn kinh doanh. Hai bên có lập hợp đồng vay tài sản, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng và được công chứng tại Phòng C, số công chứng: 311, quyển số: 13TP/CC-HĐGD ngày 18/3/2021. Tuy nhiên, để bảo đảm cho việc trả nợ, bà P giao cho bà H bản chính giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng Lô nền 17.13 và căn nhà cấp 4 xây dựng trên đất theo quy hoạch chung thuộc Khu dân cư T xã M, thành phố L, An Giang. Nguồn gốc Lô nền 17.13 và căn nhà là của ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1971, ngụ tại: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang sẽ được nhận sau khi Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu dân cư Trung tâm xã M tại ấp B, xã M, thành phố L hoàn thành (do ông X đã góp vốn đầu tư vào Dự án trên theo Hợp đồng góp vốn liên doanh số: (120:01)/HĐLDGV, ngày 27/8/2017 giữa ông X và Công ty TNHH X1). Đến ngày 28/01/2021, ông Nguyễn Văn X chuyển toàn bộ hợp đồng góp vốn cùng L nền và căn nhà nêu trên giao cho bà Huỳnh Ngọc P.

Đến hạn, bà Hoàng liên h với bà P yêu cầu bà trả nợ nhưng bà P không đồng ý, do làm ăn đang gặp khó khăn, hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Ngọc P phải trả cho bà H số tiền 250.000.000đ và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật từ ngày 18/03/2021 đến khi trả hết nợ.

Trong toàn bộ quá trình giải quyết, bà Huỳnh Ngọc P vắng mặt không có lý do, không có yêu cầu hòa giải vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa bà Hồ Kim H trình bày: Bà H yêu cầu bà P trả số tiền vốn 250.000.000đ, tiền lãi 10%/năm từ ngày 18/03/2021 đến ngày xét xử và thống nhất là tròn 39 tháng. Trong đó tiền vốn 250.000.000đ, tiền lãi 80.925.000đ.

Về phần tranh luận: bà Hồ Kim H không trình bày. Bị đơn vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, xét yêu cầu khởi kiện, căn cứ khoản Điều 26 là giao dịch dân sự nên đề nghị HĐXX thay đổi quan hệ pháp luật là hợp đồng vay tài sản để giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, của đương sự tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của đương sự nhận thấy nguyên đơn đơn thay đổi yêu cầu đối với bị đơn phải trả tiền vốn 250.000.000đ, mức lãi suất 0,83%/tháng. Bị đơn vắng mặt không có ý kiến. Do đó, căn cứ tài liệu, chứng cứ thể hiện các bên xác lập hợp đồng vay tài sản có thời hạn, có lãi suất được công chứng nên phát sinh quyền và nghĩa vụ. Phía bà P vi phạm nghĩa vụ. Vì vậy bà P có nghĩa vụ trả 250.000.000đ và tiền lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng giao kết. Về mức lãi suất không có thể hiện cụ thể, biên nhận không thể hiện rõ, phía nguyên đơn thay đổi yêu cầu mức lãi suất 10%/năm. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng b bà P trả số tiền vốn 250.000.000đ và tiền lãi 10%/năm từ ngày 18/03/2021 đến ngày 15/07/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Kim H có mặt; Bị đơn bà Huỳnh Ngọc P vắng mặt không có lý do, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa bị đơn vắng mặt. Do đó, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng b bà P trả lại cho bà số tiền vốn 250.000.000đ, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật. Xét yêu cầu của bà H phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, do đó quan hệ pháp luật được xét là tranh chấp hợp đồng vay tài sản để giải quyết và hiện nay bị đơn có nơi cư trú xã M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

[3] Về nội dung vụ án: Xét các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:

[3.1] Hợp đồng vay tài sản (không có biện pháp bảo đảm) ngày 18/03/2021 bà Huỳnh Ngọc P ký tên ghi rõ họ tên bên vay, theo hợp đồng hai bên thỏa thuận việc giao nhận tiền bằng biên nhận giao nhận tiền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự thỏa thuận giữa các bên, hợp đồng do Văn phòng C1 chứng nhận (BL28, 29, 30); cùng ngày 18/03/2021 bà P ký nhận số tiền 250.000.000đ theo biên nhận (BL 27). Qua xem xét tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện hợp đồng vay tài sản, biên nhận cùng ngày 18/03/2021 bà P đã nhận số tiền 250.000.000đ của bà H, thời hạn vay 12 tháng từ ngày 18/03/2021 đến 18/03/2022, lãi suất 20%năm. Trong thời gian vay, bà H đã thông báo cho bị đơn biết. Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền tại Điều 5 Hợp đồng vay tài sản và phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên yêu cầu của bà H là có căn cứ, bà P có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vốn 250.000.000đ.

[3.2] Về tiền lãi: Theo hợp đồng hai bên thỏa thuận lãi suất không vượt quá 20%/năm, mức lãi suất 1,67%/tháng, thời gian trả tiền lãi từ ngày 18/03/2021 đến ngày xét xử. Tại phiên tòa bà H yêu cầu bà P trả số tiền lãi với mức 0,83%/tháng (10%/năm) thời gian từ ngày 18/03/2021 đến ngày 15/07/2024 và yêu cầu làm tròn 39 tháng, cụ thể: 250.000.000đ x 0,83%/tháng x 39 tháng = 80.925.000đ. Do hợp đồng vay tài sản phù hợp quy định pháp luật, phát sinh quyền nghĩa vụ giữa các bên nên bà P có nghĩa vụ trả số tiền lãi cho bà H là phù hợp quy định Điều 468, khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

[4] Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các thông báo, quyết định theo quy định pháp luật cho bà P thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự để bảo vệ quyền lợi của bà, nhưng vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu chứng cứ có liên quan, không đưa ra yêu cầu phản tố đối với ý kiến yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ do bà Hoàng cung c nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật. Do đó, có căn cứ xem xét chấp nhận cầu khởi kiện của bà H đối với bà P, buộc bà P trả cho bà H số tiền 330.925.000đ (250.000.000đ + 80.925.000đ). Trong đó, tiền vốn 250.000.000đ, tiền lãi 80.925.000đ (tạm tính đến tháng 07/2024).

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H có căn cứ chấp nhận nên áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án trả lại cho bà H 6.250.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001999, ngày 08/05/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Buộc bà P nộp số tiền 16.546.250đ tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; 233, 273, 278, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015.
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Kim H đối với bà Huỳnh Ngọc P. Buộc bà Huỳnh Ngọc P trả cho bà Hồ Kim H số tiền 330.925.000đ (ba trăm ba mươi triệu, chín trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Trong đó, tiền vốn 250.000.000đ, tiền lãi 80.925.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Trả lại cho bà Hồ Kim H số tiền 6.250.000đ (sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001999, ngày 08/05/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Huỳnh Ngọc P nộp số tiền 16.546.250đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Hồ Kim H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Huỳnh Ngọc P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của bà P.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều hai luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. LX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 231/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐVTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger