|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 231/2024/HS-ST
Ngày 14/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung
2. Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 223/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ tên: Bùi Văn T, sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Bố: Bùi Văn Ủ, sinh năm 1953; Mẹ: Vũ Thị N, sinh năm 1960; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 6; Vợ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1999; Có 01 con sinh tháng 8/2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 35 ngày 19/11/2019 của Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 20/3/2021, chấp hành xong án phí ngày 25/12/2019, đã được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Bị cáo Bùi Văn T có mặt tại điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B.
*Bị hại:
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Công H1, sinh năm 1998, (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977, (Có mặt).
- Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1942, (Vắng mặt).
- Anh Lành Công N1, sinh năm 1996, (Vắng mặt).
- Anh Lành Công N2, sinh năm 2005, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Đều địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Đều địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T, sinh năm 1997, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (hiện ở Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) làm dịch vụ cho thuê xe mô tô tự lái. Thủ quen biết Phạm Công H1, sinh năm 1998, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang có cửa hàng cho thuê xe mô tô tự lái tại thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, trú tại thôn V, xã T, thành phố B có quen biết H1. Khoảng 16 giờ ngày 14/8/2024, H gọi điện cho H1 đặt vấn đề thuê 01 chiếc xe mô tô tự lái thì H1 đồng ý và bảo đến cửa hàng làm thủ tục thuê xe. Sau đó, H1 gọi điện cho Bùi Văn T thông báo có khách thuê xe và bảo Thủ nếu có xe thì đem đến cửa hàng của H1 để giao dịch. T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 23AK - 054.33 đi đến cửa hàng của H1. Một lúc sau, H đi đến thì H1 giới thiệu để T và H tự trao đổi thuê xe mô tô. H thoả thuận với T thuê chiếc xe mô tô Honda SH biển số 23AK - 054.33 trong thời gian 03 ngày (từ ngày 14/8/2024 đến ngày 17/8/2024) với giá 300.000 đồng/01 ngày. H viết giấy biên nhận thuê xe rồi đưa căn cước công dân của H cho Thủ giữ. Sau khi thuê được xe, H sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày hôm sau, H đến quán I gaming của anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993 ở tổ dân phố T, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cầm cố mô tô Honda SH biển số 23AK - 054.33 vay 30.000.000 đồng. H trả cho anh G 15.000.000 đồng để chuộc chiếc điện thoại Iphone 15 Pro Max mà H đã cầm cố trước đó. Số tiền còn lại, H chi tiêu hết và không về nhà.
Đến thời hạn hẹn trả xe, T gọi điện cho H để yêu cầu trả xe nhưng không liên lạc được. Buổi tối ngày 17/8/2024 và buổi trưa ngày 18/8/2024, T rủ H1 đi đến nhà H nhưng không gặp. T nói với chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977 là mẹ
của H biết việc H thuê xe nhưng chưa trả thì chị H2 hứa sẽ liên lạc với H yêu cầu chuộc lại xe trả cho T.
Khoảng 06 giờ ngày 19/8/2024, Thủ nhờ H1 đưa đến nhà H để yêu cầu trả xe. Khoảng 07 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe ô tô biển số 25A-005.83 chở T đi đến nhà H. Khi đến nơi, T xuống xe đứng ở cổng còn anh H1 điều khiển xe tìm vị trí đỗ. Lúc này, bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1942 là bà ngoại của H và chị H2 đang ở nhà còn H đang nằm ngủ trên tầng 2. Bà Q đi ra mở cổng cho T vào trong. T nói với bà Q: "gia đình nhà mình họp như thế nào rồi, sao đêm qua không gọi lại cho cháu”. Bà Q trả lời H mới về đêm qua và đang ngủ trên tầng 2. T nói: "để cháu lên gọi nó xuống nói chuyện" rồi đi theo cầu thang lên tầng 2 nhìn thấy H đang nằm ngủ trên chiếc chiếu trải dưới sàn phòng ngủ. Thủ đi đến dùng tay vỗ, lay vào vai H bảo dậy để nói chuyện. H ngồi dậy mặc áo rồi đứng dậy. T dùng tay phải cầm vào tay trái H yêu cầu xuống nói chuyện thì H giật tay ra. Thủ sợ H bỏ chạy nên đi đến tủ giày dép ở chiếu nghỉ cầu thang rồi tháo 01 sợi dây giầy màu trắng trên chiếc giầy thể thao sau đó quay lại gặp H đang đứng cạnh lối đi xuống cầu thang. T dùng tay phải cầm vào tay phải H rồi tụt tay xuống cổ tay phải của H kéo về phía sau; dùng tay trái cầm vào cổ tay trái của H kéo về phía sau. T dùng tay trái cầm chặt 02 tay của H ở tư thế 02 tay đan chéo vào nhau rồi dùng sợi dây giầy trói 02 cổ tay của H lại, cài 01 đầu vào vị trí dây quấn để không bị tụt ra ngoài. Sau khi trói H xong, T dùng tay trái cầm vào tay phải của H kéo đi theo cầu thang xuống tầng 1. Thủ bị trượt chân ngã nên kéo H ngã theo tại chiếu nghỉ cầu thang. Thủ đỡ H dậy rồi tiếp tục dẫn xuống tầng 1. Lúc này, H1 và bà Q, chị H2 đang ở tầng 1 nhìn thấy H bị trói 2 tay về phía sau và bị T dùng tay giữ. Bà Q nói: “không được bắt cháu tôi”; chị H2 cũng nói: "không được bắt H như thế". Chị H2 nhiều lần nói dù H có vi phạm thì T cũng không được quyền trói và bắt H vì không phải là Công an. Thủ sợ bị phát hiện nên thả tay H ra rồi đi ra ngồi ở bàn uống nước. Bà Q đi đến cởi trói cho H và để sợi dây ra ghế của bàn uống nước. Sau đó, T cùng mọi người ngồi nói chuyện về việc H thuê xe nhưng chưa trả. Thủ nhờ H1 đi ô tô đến thôn N, xã N, huyện Y đón Lành Công N1, sinh năm 1996 và Lành Công N2, sinh năm 2005 đều trú tại thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi đến nhà H mục đích để nhờ đi lấy xe mô tô mà H đã cấm cố. Hoàng đón N1 và N2 đi đến nhà H được một lúc thì Công an xã T, thành phố B đến lập biên bản sự việc, tạm giữ 01 chiếc dây giầy vải màu trắng dài 123cm và 01 chiếc giầy bên phải, dạng giầy thể thao màu trắng, size 39 sau đó chuyển Công an thành phố B giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Phạm Công H1 01 xe ô tô biển số 25A-005.83; tạm giữ của Bùi Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn số thuê bao 0587.968.321 và 0866.628.123.
Ngày 19/8/2024, Cơ quan điều tra cho Bùi Văn T thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả T thực hiện thuần thục động tác tháo dây giầy rồi sử dụng dây trói quặt 2 tay Nguyễn Văn H về phía sau, ép buộc H đi từ tầng 2 xuống tầng 1 sau đó H được bà Q cởi trói (bút lục 76, 77).
Cơ quan điều tra cho H, T nhận dạng ảnh của nhau và cho Phạm Công H1 nhận dạng ảnh của H và T. Kết quả, H, T, H1 đều nhận đúng ảnh và xác định T dùng dây buộc giày trói 2 tay H ra sau lưng rồi kéo từ tầng 2 xuống tầng 1 nhà H ngày 19/8/2024 (bút lục 35, 39, 43, 47).
Cơ quan điều tra cho bà Hoàng Thị Q và chị Nguyễn Thị H2 nhận dạng ảnh Bùi Văn T. Kết quả, bà Q và chị H2 nhận đúng ảnh và xác định T dùng dây buộc giày trói 2 tay H ra sau lưng rồi kéo từ tầng 2 xuống tầng 1 vào ngày 19/8/2024 (bút lục 51, 55)
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn H không yêu cầu Bùi Văn T phải bồi thường (bút lục 102).
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc ô tô biển số 25A-005.83 cho Phạm Công H1. Những vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Đối với Phạm Công H1 điều khiển xe ô tô chở Bùi Văn T đến nhà của Nguyễn Minh H3 mục đích để yêu cầu H3 trả lại xe mô tô đã thuê; H1 không bàn bạc trước với T về bắt giữ H3; việc T dùng dây trói H3 là do bột phát, tự thực hiện nên H1 không đồng phạm.
Đối với Nguyễn Văn H có hành vi thuê xe mô tô Honda SH biển số 23AK - 054.33 của Bùi Văn T rồi mang đi cầm cố lấy tiền có dấu hiệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra tại địa bàn huyện Y nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cáo trạng số 223/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Bùi Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Bùi Văn T trình bày: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu như bản cáo trạng. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo không có thẩm quyền về việc bắt người. Bị cáo giữ nguyên lời trình bày của bị cáo tại cơ quan điều tra. Trong quá trình điều tra, bị cáo bị thu giữ 01 chiếc điện thoại di động. Chiếc điện thoại đó không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đề nghị được xin lại.
- Anh Nguyễn Văn H là bị hại trình bày: Anh đã nghe rõ lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Việc bị cáo khai như vậy là đúng. Tại cơ quan điều
tra, lời khai của anh H là hoàn toàn tự nguyện nên anh giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Tại phiên tòa hôm nay, anh H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Chị Nguyễn Thị H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị đã chứng kiến những gì thì chị đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của chị tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện nên chị giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn Thủ T1 07 (Bảy) tháng đến 10 (M) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2024.
- Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, gắn số thuê bao 0587.968.321, 0866.628.123 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 chiếc dây giầy làm bằng vải, màu trắng dài 123 cm đã qua sử dụng; 01 chiếc giầy bên phải, dạng thể thao, màu trắng, size 39, đã qua sử dụng.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa: Không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 14/8/2024, Nguyễn Văn H đi đến thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thuê chiếc xe mô tô Honda SH biển số 23AK - 054.33 của Bùi Văn T sau đó tự ý đem đi cầm cố lấy tiền. Thủ đã đến nhà H để yêu cầu trả xe nhưng không gặp.
Khoảng 07 giờ ngày 19/8/2024, T nhờ Phạm Công H1 điều khiển xe ô tô biển số 25A-005.83 đưa đến nhà H ở thôn V, xã T, thành phố B mục đích để yêu cầu H trả lại xe mô tô đã thuê. Khi H đang nằm ngủ trên tầng 2 thì T đi lên gọi H dậy rồi lấy sợi dây giầy bằng vải trói quặt 2 tay H về phía sau; dùng tay kéo H đi theo cầu thang từ tầng 2 xuống tầng 1. Bà Hoàng Thị Q và chị Nguyễn Thị H2 là bà ngoại và mẹ H yêu cầu T không được trói và bắt H thì Thủ thả tay ra. Bà Q cởi trói cho H. Sau đó, Công an xã T, thành phố B đến lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, nhưng vẫn thực hiện, lỗi của bị cáo là cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật”.
Do vậy, Bản cáo trạng số 223/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Bắt người trái pháp luật” khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi đó không những xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do của công dân được pháp luật bảo vệ mà
còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị pháp luật hình sự xử phạt nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung như mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang là phù hợp.
[8] Về Vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, gắn số thuê bao 0587.968.321, 0866.628.123 đã qua sử dụng: là tài sản cá nhân của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 chiếc dây giầy làm bằng vải, màu trắng dài 123 cm đã qua sử dụng; 01 chiếc giầy bên phải, dạng thể thao, màu trắng, size 39, đã qua sử dụng: là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, cần tạm giam bị cáo Bùi Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- 1. Xử:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 08 (T2) tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/8/2024.
- 2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, vỏ màu xanh, gắn số thuê bao 0587.968.321, 0866.628.123 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu tiêu hủy: Đối với 01 chiếc dây giầy làm bằng vải, màu trắng dài 123 cm đã qua sử dụng; 01 chiếc giầy bên phải, dạng thể thao, màu trắng, size 39, đã qua sử dụng.
- 3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 231/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về bắt người trái pháp luật (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 231/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Bắt người trái pháp luật (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Th phạm tội bắt người trái pháp luật
