Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2024/DS-PT

Ngày: 14-5-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 07, 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 141/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc Ẩ, sinh năm 1952. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị Thanh G, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số nhà B, đường Đ, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Người đại diện theo ủy quyền của bà G: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số A đường N, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 24/6/2020).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Hồng B1, Công ty TNHH MTV P thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Thanh H, sinh năm 1952. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Xin vắng mặt
    2. Ông Trần Tình T, sinh năm 1945; Địa chỉ: Số B ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
    3. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Trần Chí T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

    4. Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
    5. Bà Hồ Thị N sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
    6. Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A đường L, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    7. Ông Trần Hữu H1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số E đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    8. Ông Trần Vạn X, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số B, tổ F, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    9. Bà Trần Thị Thanh V, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số F đường số D, khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    10. Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số E đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    11. Bà Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số C ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Xin vắng mặt
    12. Bà Trần Thị Ngọc L2, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số B L, tổ F, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    13. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1937; Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
    14. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1942; Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
    15. Bà Trần Thị T3, sinh năm 1943; Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
    16. Bà Trần Thị Q, sinh năm: 1949; Địa chỉ: Khu phố E, Thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
    17. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số B ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
    18. Bà Trần Thị Kim T4, sinh năm 1946; Địa chỉ: Số B N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
    19. Bà Nguyễn Thị Thanh V1, sinh năm 1943; Địa chỉ: Ấp H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị Thanh G.

(Ông Ẩ, ông B1, Luật sư B1, ông T, ông O, bà Q, bà H3, ông T1, bà G có mặt; Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Ngọc Ẩ trình bày:

Ông Trần Ngọc Ẩ khởi kiện yêu cầu xác định các thửa đất số 2058, 2059, 1937, tờ bản đồ 07, tổng diện tích 5.176m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của ông Ẩ.

Nguồn gốc các thửa đất trên là của ông Trần Văn D (Vầy), sinh năm 1914, chết năm 1999, là cha ruột của ông Ẩ. Theo Tờ khai gia đình ngày 27/7/1994 có ghi là Trần Văn V2 nhưng thực tế cha ông tên Trần Văn D theo giấy trích lục khai tử. Trước đây, theo chính sách Người cày có ruộng khoảng năm 1970-1972 thì ông D được chia các phần đất trên để sử dụng và bao gồm các phần đất khác, tổng cộng hơn 12.000m² để trồng lúa. Thời điểm sử dụng đất thì ông D sinh sống tại ấp T, xã T huyện C.

Đến khoảng năm 1996, ông D làm Giấy ủy quyền ngày 13/12/1996 cho con trai là Trần Ngọc Ẩ diện tích 12.000m² để “đăng ký quản lý, trực thuộc canh tác” nhưng mục đích là tặng cho ông Ẩ, có sự chứng kiến của hai người con khác là ông Trần Văn Q1 và ông Trần Tình T. Giấy ủy quyền được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C xác nhận chữ ký cùng ngày.

Về quá trình sử dụng đất thì ông Trần Ngọc Ẩ sinh sống và cùng canh tác với cha mẹ cho đến khi ông D tặng cho đất. Sau khi ông D chết thì ông Ẩ tiếp tục sử dụng được vài năm và giao cho anh trai là Trần Tình T canh tác. Sau này, ông Nguyễn Văn O là em vợ của ông T được ông T để canh tác và đong lúa.

Trong thời gian ông D sử dụng đất từ năm 1966 đến năm 1999 nhưng chưa đăng ký kê khai nên thời điểm lập giấy ủy quyền thì ông D chưa được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích sử dụng. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên quá trình sử dụng đến nay ông Ẩ cũng chưa đăng ký kê khai cấp giấy. Năm 2018, ông Ẩ tiến hành đi kê khai cấp giấy thì bà Trần Thị Thanh G tranh chấp. Hiện nay, sổ mục kê được lập năm 2000 thể hiện: Thửa đất số 2058, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.992m², mục đích sử dụng đất lúa, ghi tên sử dụng là ông Trần Văn D; thửa đất số 1937, tờ bản đồ số 7, diện tích 2.150m², (1750m² BHK + 400m² ONT), ghi tên sử dụng là ông Trần Thanh H; thửa đất số 2059, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.204m², (804m² BHK + 400m² ONT), ghi tên sử dụng là ông Trần Thanh H.

Việc ông H đứng tên sổ mục kê thì ông D và gia đình không biết. Có thể do năm 1996, ông T chuyển nhượng cho ông H diện tích khoảng 810m² thuộc một phần thửa số 1937 và 2059 theo Giấy cam kết ngày 13/3/1996 nên ông H kê khai trọn thửa. Năm 2019, ông H có làm Giấy trả đất ngày 21/10/2019 không có xác nhận địa phương cho bà Trần Thị Thanh G và sau đó, ông H đã làm Đơn xin hủy giấy trả đất ngày 22/12/2019 vì việc trả đất cho bà G là không đúng.

Đối với yêu cầu của bà G thì ông Ẩ không đồng ý, vì khi bà H3 lên S không có giao đất cho ông D như phía bà G trình bày.

Trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị Thanh G là ông Nguyễn Thanh B và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày:

Nguồn gốc đất các thửa đất tranh chấp số 2058, 2059, 1937 là của ông Trần Hữu K, chết năm 1969 và bà Huỳnh Thị C, chết năm 1983 cho con là bà Trần Thị H4 (tự Lào) sinh năm 1913, chết năm 1997. Ông K, bà C có tất cả 08 mẫu đất, tương đương 80.000m² đất tại xã T, huyện C.

Bà Trần Thị H4 được cha mẹ tặng cho và sử dụng từ năm 1950 đến năm 1974. Sau năm 1974 thì bà H4 cùng con là Trần Thị Thanh G lên S, nay là Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống. Bà Trần Thị H4 và ông Trần Văn K1, chết năm 1968 có một người con duy nhất là bà G. Còn trước đó, bà H4 có hai con riêng là Trần Thị Kim T4 và Nguyễn Thị Thanh V1.

Thời điểm đi, bà H4 có giao 08 mẫu đất cho ông D canh tác và giữ đất dùm cho bà H4 (trong đó có các thửa đất tranh chấp), tuy nhiên khi giao đất không có lập giấy tờ. Khoảng năm 1971 thì bà H4 có được chính quyền cấp giấy đối với các thửa đất được cha mẹ tặng cho. Tuy nhiên, hiện nay giấy tờ đã thất lạc nên không cung cấp cho Tòa án.

Theo bà G biết, sau khi được giao đất thì ông D chỉ canh tác được khoảng 2-3 năm thì bỏ hoang. Đến năm 1983, ông Trần Thanh H được Nhà nước giao các thửa đất trên để canh tác, nhưng ông H chỉ canh tác vài vụ lúa thì bỏ hoang. Đến năm 1997 thì ông H đăng ký kê khai một lần nữa, từ năm 1983 đến khoảng 04-05 năm về trước thì đất bỏ hoang không có ai sử dụng. Khoảng 04-05 năm trở lại đây thì ông O mới canh tác 02 thửa, còn 01 thửa đất đã làm kênh nên không canh tác được.

Thời gian bà H4 lên S sinh sống thì hằng năm đều về thánh thất Tân Tập để thăm mộ ông K1 (gần phần đất tranh chấp). Từ thời điểm bà H4 lên S sinh sống cho đến khi chết thì không có sử dụng đất và bà G cũng không sử dụng đất. Tuy nhiên, năm 2019 ông Trần Thanh H có làm giấy trả đất lại cho bà G do thời điểm hiện tại ông H đứng tên sổ mục kê.

Bà G không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ẩ vì các tài liệu ông Ẩ cung cấp không có thể hiện 03 thửa đất tranh chấp mà chỉ thể hiện diện tích chung chung. Bà G yêu cầu Tòa án xác định 03 thửa đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà G vì đây là di sản thừa kế của bà H4 để lại cho bà G.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Q2, bà Trần Thị T3, bà Nguyễn Thị H3 và người đại diện theo ủy quyền ông Trần Tình Thế l ông Trần Chí T1, các ông bà thống nhất trình bày:

Các ông bà thống nhất với ông Ẩ về nguồn gốc đất tranh chấp và xác định năm 1996 ông D làm Giấy ủy quyền là để tặng cho ông Trần Ngọc Ẩ diện tích 12.000m² trong đó bao gồm các thửa đất tranh chấp. Do đó, ông Ẩ yêu cầu Tòa án xác định các thửa đất tranh chấp số 2058, 2059 và 1937 thuộc quyền sử dụng của ông Ẩ thì các ông bà đồng ý và không có ý kiến tranh chấp gì.

Ông T và vợ là bà H3 xác định thời điểm ông D già yếu thì ông T và vợ tiếp tục sử dụng 03 thửa đất nêu trên. Đến năm 2015 thì ông T giao lại ông Nguyễn Văn O là em rể canh tác để đong lúa. Ông Ẩ cũng không có ý kiến gì và đồng ý để ông O canh tác đong lúa cho ông T. Ông T xác định các thửa đất tranh chấp là của ông Ẩ vì được cha tặng cho. Còn ông T đã được cho các phần đất khác nên không có tranh chấp, bà H3 cũng thống nhất với ý kiến ông T.

Năm 1996, ông T chỉ có chuyển nhượng một phần diện tích khoảng 810m² cho ông H thuộc một phần thửa 1937, 2059 và hiện nay ông H đã xây dựng nhà sinh sống giáp ranh với các phần đất tranh chấp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ngọc L, ông Trần Hữu H1, ông Trần Vạn X, bà Trần Thị Thanh V, ông Trần Quốc T2, bà Trần Thị Ngọc L1, bà Trần Thị Ngọc L2 là những người thừa kế của ông Trần Văn Q1 trình bày: Thống nhất với yêu cầu của ông Ẩ và đồng ý để ông Ẩ được đăng ký kê khai quyền sử dụng các phần đất tranh chấp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh V1 trình bày:

Bà V1 và bà T4 là con riêng của bà H3 trước khi bà H3 chung sống với ông K1. Các thửa đất tranh chấp là của gia đình bà H3 sử dụng từ trước năm 1975. Khi mẹ và em lên S sinh sống thì có giao đất lại cho ông D. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà G.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H trình bày:

Ông H không có quan hệ họ hàng với ông Trần Ngọc Ẩ, ông Trần Tình T và bà Trần Thị Thanh G. Trước đây, ông H làm trưởng ấp T, xã T, huyện C (nơi có đất tranh chấp) từ ngày 30/4/1975 đến năm 2017. Từ năm 2020 đến nay ông H làm phó ấp T, xã T, huyện C. Theo ông H biết thì các thửa đất 2058, 2059 và 1937 giáp ranh với nhà của ông đang sinh sống có nguồn gốc của bà Trần Thị H4 là mẹ ruột bà G. Trước đây, bà H4 nuôi con trên các phần đất này. Đến năm 1968, chồng bà H4 là ông K1 chết, vài năm sau bà H4 cùng các con lên S sinh sống. Sau khi bà H4 đi thì ông Trần Văn D là em của ông K1 đến sử dụng đất trồng lúa trước năm 1975. Về việc các bên có thỏa thuận giao đất hay không thì ông không biết. Khi bà H4 đi không có giao đất cho ông và ông cũng không có sử dụng đất. Phần đất ông cất nhà là do mua lại từ ông D 1.000m².

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị N trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp theo bà biết là của ông Mười D1, sau đó ông T sử dụng, về sau thì ông O sử dụng. Bà và ông H không có sử dụng phần đất này nên không có ý kiến tranh chấp gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn O trình bày:

Ông là người trực tiếp quản lý các thửa đất từ năm 2015 đến nay do ông Trần Tình T giao cho ông sử dụng để đong lúa cho ông T. Ngoài ông canh tác thì không có ai khác canh tác trên phần đất này. Ông xác định là ông được ông T giao đất canh tác chứ không phải ông Trần Thanh H. Khi ông canh tác thì chỉ biết ông T giao đất và đất là của cha ông Dầy. Trường hợp, đất thuộc quyền sử dụng của ai thì ông đồng ý trả lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 135/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã căn cứ Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, 147, 165, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100 Luật đất đai năm 2013; các Điều 182, 184, 221 và Điều 237 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Khoản 3 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc Ẩ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Trần Thị Thanh G.
  2. Xác định ông Trần Ngọc Ẩ có quyền sử dụng đối với các thửa đất được thể hiện theo sổ mục kê được lập năm 2000 bao gồm: Thửa đất số 2058, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.992m², mục đích sử dụng đất lúa; Thửa đất số 1937, tờ bản đồ số 7, diện tích 2.150m², trong đó có diện tích 1.750m² loại đất vườn và diện tích 400m² loại đất thổ; Thửa đất số 2059, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.204m², trong đó có diện tích 804m² loại đất vườn và diện tích 400m² loại đất thổ.

    Vị trí phần đất có ký kiệu là F, G, H theo Mảnh trích đo địa chính số 82/2021 của Công ty TNHH Đ3 lập ngày 28/01/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 02/02/2021.

    Ông Trần Ngọc Ẩ có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 82/2021 của Công ty TNHH Đ3 lập ngày 28/01/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 02/02/2021).

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Ngọc Ẩ.
  4. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị Thanh G phải chịu chi phí đo đạc, định giá, thẩm định là 33.500.000 đồng và đã nộp xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Thanh G được miễn án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 08/01/2024, bị đơn là bà Trần Thị Thanh G kháng cáo một phần bản án yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ẩ, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận cho bị đơn được quyền sử dụng hai thửa đất 2059 và 1937..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Thanh G thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh H, bà Hồ Thị N, bà Trần Thị Ngọc L, ông Trần Hữu H1, ông Trần Vạn X, bà Trần Thị Thanh V, ông Trần Quốc T2, bà Trần Thị Ngọc L1, bà Trần Thị Ngọc L2, bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị T3, bà Trần Thị Kim T4, bà Nguyễn Thị Thanh V1 có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bà Trần Thị H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Theo đơn khởi kiện ông Trần Ngọc Ẩ tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Trần Thị Thanh G đối với 03 thửa đất 2058, 2059, 1937 cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Ẩ. Sau khi xét xử sơ thẩm bà G kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn phản tố của bà, ông Ẩ phải trả cho bà G 03 thửa đất 2058, 2059, 1937.

Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[4] Xét kháng cáo của bà Trần Thị Thanh G, thấy rằng:

[4.1] Vị trí các phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 82/2021 do Công ty TNHH Đ3 vẽ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 02/02/2021 gồm các vị trí:

  • Khu F thuộc thửa 2058, diện tích thực tế là 1.786 m².
  • Khu G thuộc thửa 1937 diện tích thực tế là 2.000 m².
  • Khu H thuộc thửa 2059 diện tích thực tế là 1.201 m².

Tổng diện tích 4.987 m², cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

[4.2] Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Thửa đất 2058, 2059, 1937 cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An từ trước đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho cá nhân, tổ chức nào.

[4.3] Về nguồn gốc các thửa đất tranh chấp:

Các bên không thống nhất về việc xác định nguồn gốc đất tranh chấp đối với 03 thửa đất 2058, 2059, 1937. Phía nguyên đơn ông Trần Ngọc Ẩ cho rằng các thửa đất tranh chấp là của ông Trần Văn D được chia theo chính sách Người cày có ruộng. Còn phía bị đơn bà G xác định đất có nguồn gốc là của ông Trần Hữu K (chết năm 1969) và bà Huỳnh Thị C (chết năm 1983) cho con là bà Trần Thị H4 (tự Lào) (1913-1997), bà H4 là mẹ ruột bà G.

Căn cứ Biên bản họp dân lấy ý kiến nguồn gốc đất của Ủy ban nhân xã T, huyện C đối với 08 hộ dân ở ấp T, xã T, huyện C, cùng lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh H và người làm chứng ông Nguyễn Phước C2, ông Nguyễn Văn Đ2 đều xác định các thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bà G sử dụng từ trước năm 1975. Đồng thời, Văn bản số 1435/UBND-KT ngày 21/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cũng xác định đất có nguồn gốc của bà H4. Như vậy có căn cứ cho rằng các thửa đất 1937, 2058, 2059 có nguồn gốc là của bà Hai L3 như phía bà G trình bày.

[4.4] Về quá trình quản lý, sử dụng đất:

[4.4.1] Căn cứ theo lời khai thừa nhận của phía bị đơn bà Trần Thị Thanh G tại các biên bản hòa giải, bản tự khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa xác định: Từ năm 1975 đến năm 2018 thì bà G cùng mẹ ruột là bà Trần Thị H4 lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và không trực tiếp canh tác, sử dụng các phần đất này, mặc dù hằng năm các bà đều có về thăm mộ của gia đình tại xã T, huyện C.

[4.4.2] Phía bị đơn bà G xác định trước khi lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống thì bà H4 có thỏa thuận giao cho ông Trần Văn D là em của chồng của bà H4 để quản lý, sử dụng khoảng 80.000m² đất, trong đó có các thửa đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, năm 1999 ông D chết, hiện nay các con của ông D không thừa nhận có việc nhận đất để quản lý cho bà H4. Mặt khác, bà G cũng không cung cấp được chứng cứ khác xác định có việc giao đất cho ông D quản lý, sử dụng. Hơn nữa, từ khi bà H4 chết năm 1997 đến khi ông D chết năm 1999 và sau đó đến năm 2018 khi phát sinh tranh chấp thì bà G cũng không có yêu cầu những người thừa kế của ông D thực hiện việc trả đất. Do đó, không có cơ sở xác định bà Trần Thị H4 (T là Lào) có giao cho ông Trần Văn D quản lý, trông coi dùm các thửa đất tranh chấp.

[4.4.3] Ngoài ra, quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của bà G cũng có lời khai tại Biên bản hòa giải 06/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xác định trước khi lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống thì bà H4 chỉ giao cho ông D 01 thửa đất số 2058, còn 02 thửa đất số 2059, 1937 thì giao ông Trần Thanh H quản lý. Cho thấy, lời khai của phía bà G cũng không nhất quán trong việc xác định có giao người khác quản lý các thửa đất của gia đình.

[4.4.4] Về việc phía bà G xác định có giao cho ông H quản lý đất thì tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/5/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm, ông Trần Thanh H xác định không sử dụng đất và cũng không được bà H4 giao 02 thửa đất nêu trên. Ngoài ra, ông H còn cho biết Giấy trả đất mà ông lập ngày 21/10/2019 cho bà Trần Thị Thanh G là do ông xác định nguồn gốc đất có từ bà H4 nên mới làm giấy trả đất. Tuy nhiên, sau đó ông H có làm Đơn xin hủy giấy trả đất ngày 22/12/2019 vì ông không xác định được đất của ai, việc xác định do cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Đối với việc ông đứng tên sổ mục kê chỉ là do nhầm lẫn. Do phía bà G không chứng minh được có việc giao đất cho ông H và ông H không thừa nhận nên không có cơ sở xác định bà Trần Thị H4 có giao cho ông Trần Thanh H quản lý, trông coi dùm 02 thửa đất số 2059, 1937.

Xét thấy không có cơ sở xác định theo lời khai của phía bị đơn bà G về việc bà Trần Thị H4 có giao đất cho ông D, ông H quản lý, để xác định ý chí về việc quản lý các thửa đất đang tranh chấp của bà H4 trong thời gian không sử dụng đất từ năm 1975 đến năm 2018.

[4.4.5] Mặc dù, các thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của gia đình bà Trần Thị H4 và do gia đình bà H4 sử dụng từ trước năm 1975. Tuy nhiên, tại thời điểm đó bà H4 cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp quyền sử dụng các thửa đất tranh chấp. Và sau năm 1975, bà H4 cùng các người con lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, đồng thời không còn sử dụng các phần đất tranh chấp đến khi bà H4 chết năm 1999. Mặt khác, phía bà G không có chứng cứ xác định mặc dù không sử dụng đất nhưng bà H4 có ủy quyền cho người khác quản lý, sử dụng để thể hiện ý chí quản lý, sử dụng đối với các thửa đất. Do đó, không có căn cứ xác định bà H4 có quyền sử dụng đối với các thửa đất này.

[4.4.6] Sau khi bà H4 chết, bà G cũng không sử dụng đất cho đến khi phát sinh tranh chấp năm 2018. Việc bà H4, bà G không quản lý sử dụng đất từ trước năm 1975, phía gia đình ông Ẩ sử dụng từ năm 1975 đến năm 2018 là hơn 30 năm. Vì vậy, bà G hay những người thừa kế khác của bà H4 không có cơ sở đòi quyền sử dụng từ những người sử dụng khác. Không có căn cứ xác định các thửa đất là di sản hợp pháp của bà H4. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố về việc yêu cầu xác định các phần đất thuộc quyền sử dụng của bà G.

[4.4.7] Phía người đại diện theo ủy quyền của bà G xác định ông Trần Thanh B2 có quản lý, sử dụng đất từ năm 2018 đến nay. Tuy nhiên, xét thấy tại thời điểm khởi kiện, ông B2 là người đại diện theo ủy quyền của bà G có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với ông Nguyễn Văn O về việc không đồng ý để ông O tiếp tục canh tác trồng lúa trên các thửa đất tranh chấp. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông B2 cũng thừa nhận từ năm 2018 đến nay ông không trực tiếp sử dụng đất. Do đó, lời trình bày của ông B2 là không phù hợp.

[4.4.8] Căn cứ văn bản số 593/UBND-DC ngày 14/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C xác định: Thửa đất 2058, TBĐ 07 diện tích 1992m², loại đất LUC theo sổ mục kê ghi tên ông Trần Văn D3; Thửa đất 2059, TBĐ 07 diện tích 1204m², loại đất ONT theo sổ mục kê ghi tên ông Trần Thanh H; Thửa đất 1937, TBĐ 07 diện tích 2150m², loại đất ONT theo sổ mục kê ghi tên ông Trần Thanh H. Và theo văn bản số: 2832/UBND-NC ngày 16/6/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C xác định: Theo sổ mục kê thì Thửa đất 2058, tờ bản đồ số 07 diện tích 1992m², mục đích sử dụng đất lúa, ghi tên tên ông Trần Văn D2; Thửa đất 1937, tờ bản đồ số 07 diện tích 2150m², (1.750m² BHK + 400m² ONT) ghi tên chủ sử dụng đất ông Trần Thanh H; Thửa đất 2059, tờ bản đồ số 07 diện tích 1204 m² (804m² BHK+ 400m² ONT), ghi tên chủ sử dụng đất ông Trần Thanh H. Có thể thấy trong sổ mục kê thể hiện có sự khác nhau về người sử dụng đối với thửa đất số 2058. Tuy nhiên, sự khác nhau này là do sai sót, không phải chủ sử dụng là những người khác nhau. Vì các bên đều xác định ông D là người quản lý thửa đất trước đó. Hơn nữa, năm 1996 ông D có thực hiện chuyển nhượng cho ông Trần Thanh H với diện tích khoảng 810m², ông H cũng xác nhận phần diện tích kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với phần đất nhận chuyển nhượng có vị trí giáp ranh các phần đất tranh chấp. Do đó, xác định ông Trần Văn D (Vầy, D3) là người đứng tên sổ mục kê đối với thửa đất số 2058.

[4.4.9] Sổ mục kê còn thể hiện ông Trần Thanh H là chủ sử dụng đối với thửa đất số 1937 và thửa số 2059, tuy nhiên ông H xác định việc đứng tên chủ sử dụng là có sự nhầm lẫn, do thực tế ông Trần Văn D là người quản lý sử dụng. Bà Hồ Thị N là người dân sống gần phần đất tranh chấp cũng xác định các thửa đất tranh chấp là do ông D sử dụng sau đó cho lại các người con mà không phải ông H sử dụng đất. Năm 1996, ông D đã thỏa thuận chuyển nhượng một phần đất diện tích 810m² cho ông H giáp với các phần đất tranh chấp. Đồng thời, ông D lập giấy ủy quyền cho con có sự xác nhận của chính quyền địa phương. Ngoài ra, theo Văn bản số 1435/UBND-KT ngày 21/12/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cũng xác định: Sau khi bà H4 cùng con gái bỏ quê hương Tân Tập lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống thì ông Trần Văn D là cha ruột của ông T đến tiến hành dỡ hoang. Do đó, có cơ sở xác định ông D có quản lý, sử dụng các thửa đất tranh chấp đến khi ông chết.

[4.4.10] Trước khi chết, năm 1996 thì ông D đã lập giấy ủy quyền giao cho ông Ẩ quản lý sử dụng. Tuy ông Ẩ không trực tiếp sử dụng nhưng các anh em của ông Ẩ là ông T và giao cho ông O sử dụng. Tuy nhiên, các người con của ông D xác định các thửa đất tranh chấp đã được ông D định đoạt cho ông Ẩ nên đồng ý để ông Ẩ được quyền sử dụng. Do đó, xác định các phần đất do ông D quản lý sử dụng và sau đó các con của ông D tiếp tục quản lý sử dụng, các người con đồng ý giao lại cho ông Ẩ thực hiện việc đăng ký kê khai nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Ẩ về việc xác định các thửa đất thuộc quyền sử dụng của ông.

[5] Từ phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tuy nhiên tại Bản án sơ thẩm tuyên diện tích các thửa đất theo sổ mục kê là không đúng diện tích đất thực tế sử dụng. Do đó, cần sửa diện tích đất theo diện tích đo đạc thực tế theo Mảnh trích đo địa chính số 82-2021 để đảm bảo việc thi hành án.

[6] Xét thấy kháng cáo của bà Trần Thị Thanh G và đề nghị của Luật sư không có căn cứ nên Hội đồng xet xử không chấp nhận.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Bà Trần Thị Thanh G phải chịu chi phí đo đạc, định giá, thẩm định là 33.500.000 đồng và đã nộp xong.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Bà Trần Thị Thanh G là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Thanh G.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 135/2023/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Căn cứ Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, 147, 165, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100 Luật đất đai năm 2013; các Điều 182, 184, 221 và Điều 237 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Khoản 3 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Ngọc Ẩ đối với bà Trần Thị Thanh G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
    1. Ông Trần Ngọc Ẩ được quyền tiếp tục sử dụng đất đối với các thửa đất tại các vị trí sau:
      • Khu F thuộc thửa đất 2058, diện tích thực tế là 1.786 m².
      • Khu G thuộc thửa đất 1937, diện tích thực tế là 2.000 m².
      • Khu H thuộc thửa đất 2059, diện tích thực tế là 1.201 m².

      Tổng diện tích 4.987 m², cùng tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

      Vị trí, diện tích các phần đất tại các vị trí F, G, H theo Mảnh trích đo địa chính số 82/2021 của Công ty TNHH Đ3 lập ngày 28/01/2021, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 02/02/2021.

    2. Ông Trần Ngọc Ẩ được quyền liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thanh G về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Ngọc Ẩ.
  3. Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Bà Trần Thị Thanh G phải chịu chi phí đo đạc, định giá, thẩm định là 33.500.000 đồng và đã nộp xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn cho bà Trần Thị Thanh G án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Trần Thị Thanh G án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 231/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 231/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger